CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KIEM TOÁN TÀI SAN CÓ ĐỊNH TRONG KIEM TOÁN BAO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIEM TOÁN AN VIỆT 1.Đặc điểm chu trình kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính 1.Khái niệm tài sản cố định TSCĐ được định nghĩa là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn và mang tính chất mang lại lợi ích về lâu dài cho DN (thời gian hữu dụng trên một năm). Theo CMKT Việt Nam số 03 về TSCĐ hữu hình và số 04 về TSCD vô hình ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QD-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cùng với Thông tư số 45/2013/QD-BTC ban hành ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính thì một tài sản của DN được nhận định là TSCĐ phải đồng thời thỏa mãn bốn điều kiện sau: Thứ nhất, TSCĐ phải chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Thứ hai, nguyên giá tài sản phải được xác định trên một cơ sở tin cậy; Thứ ba, thời gian sử dụng TSCD phải trên một năm; Thứ tw, TSCĐ phải có đủ tiêu chuẩn theo quy định hiện hành. Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng TSCD đòi hỏi phải quan lý riêng từng bộ phận tài sản và mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCD thì được coi là một TSCD hữu hình độc lập. Đối với tài sản là động vật làm việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con động vật cùng thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCĐ đều được coi là một TSCD hữu hình.
Trong trường hợp vườn cây lâu năm, nếu từng mảnh vườn hoặc từng cây cối thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCD thì cũng được coi là một TSCD hữu hình.Phân loại tài sản cố định TSCD có rất nhiều cách dé phân loại, trong đó phổ biến nhất là chia TSCD thành ba loại là: TSCD hữu hình, TSCD vô hình và TSCD thuê tài chính. Tài sản có định hữu hình theo chuan mực kế toán Việt Nam số 03 là “những tài sản dưới hình thức vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ hữu hình”. TSCD hữu hình được phân loại thành các nhóm tài sản có cùng tính chất và mục đích sử dụng, gồm: Nhà cửa vật kiến trúc; Máy móc thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dan; Thiết bị dụng cụ quản lý; Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm và TSCDHH khác. Tài sản cố định vô hình, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04, là “tài sản không dưới dạng vật chất nhưng xác định được giá trị và do DN nam giữ, được sử dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình”.
TSCĐ vô hình bao gồm: Quyền sử dụng đất; Quyền phát hành; Bản quyền, bằng sáng chế; Nhãn hiệu hàng hõa, Phần mềm máy tính; Giấy phép và giấy phép nhượng quyền và các TSCD vô hình khác. TSCD thuê tài chính là “những tai sản ma DN đi thuê của công ty cho thuê tài chính. Bên thuê có quyền được lựa chọn hoặc là mua lại tài sản thuê hoặc là tiếp tục thuê theo các điều kiện có sẵn trong hợp đồng thuê tài chính sau khi thời hạn thuê kết thúc. Tổng số tiền thuê tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng”.
Các trường hợp được coi là thuê tài chính bao gồm: Thứ nhất là bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê. Trường hợp thứ hai xảy ra khi trong hợp đồng thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê. Trường hợp thứ ba là thời hạn thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Trường hợp tiếp theo: Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn (tương đương) giá trị hợp lý của tài sản thuê.
Cuối cùng, tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng sử dụng không cân có sự thay đôi, sửa chữa lớn nào được coi là thuê tài chính.Đặc điểm của tài sản cố định 1.Vai trò của tài sản có định đối với doanh nghiệp TSCD là yếu tố quan trọng không thé thiếu của DN, là cơ sở vật chất, máy móc kỹ thuật, phản ánh tiềm lực và năng lực, trình độ khoa học kỹ thuật của DN trong việc áp dụng máy móc vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất từ đó dẫn tới hạ giá thành sản phẩm. TSCD là tài sản được sử dung cho mục đích vận hành sản xuất kinh doanh chứ không phải để bán nên trong quá trình sử dụng, TSCĐ sẽ bị hao mòn theo thời gian va quá trình sử dụng. Giá trị này được chuyển đổi thành chi phí hoạt động kinh doanh trong kỳ của DN và sẽ được thu hồi sau khi bán hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, các TSCD cũng bị hao mòn do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng của nhân loại.
Trong các DN, TSCĐ đều chiếm một tỷ trọng nhất định trong cơ cấu tổng tài sản. Tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh khác nhau mà TSCĐ có vai trò khác nhau trong DN. Ví dụ với DN sản xuất thì TSCĐ đóng vai trò quan trọng làm công cụ sản xuất nên có tỷ trọng lớn, còn đối với DN thương mại dịch vụ thì TSCĐ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn. Mục đích quá trình sử dụng TSCĐ, ngoài việc sử dụng hợp lý TSCĐ để tạo công suất lớn nhất, giúp DN phát triển năng lực sản xuất, DN còn cần phải tiến hành bảo dưỡng, bảo quan và sửa chữa TSCD.
Chi phí được bù đắp khi sửa chữa TSCD bi ảnh hưởng bởi hai yếu tố là quy mô sửa chữa và phân loại TSCD.Thông tin về tài sản có định được trình bày trên báo cáo tài chính Trên BCTC, DN phải trình bày TSCĐ theo từng loại về đảm bảo đầy đủ những thông tin sau: Phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình; Phương pháp khấu hao sử dụng: Thời gian sử dụng hữu ích hoặc tỷ lệ khấu hao; Nguyên giá, KHLK và Giá trị còn lại tại thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ kế toán. Ngoài ra, trên TMBCTC (những mục liên quan đến TSCD hữu hình) DN phải trình bày được các thông tin về nguyên giá TSCĐ hữu hình tăng, giảm trong kỳ; Số khấu hao tăng, giảm trong kỳ và KHLK tính đến thời điểm cuối kỳ;GTCL của TSCD hữu hình đã sử dụng dé thế chấp hoặc cầm cố cho các khoản vay; Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dé dang; GTCL của TSCĐ hữu hình tạm thời không được sử dụng: Nguyên giá của TSCĐ hữu hình đã trích hết khấu hao nhưng vẫn còn sử dụng: GTCL của TSCĐ hữu hình đang chờ thanh lý và các thay đổi khác về TSCĐ hữu hình. TSCD vô hình được trình bày trên BCTC tương tự như TSCĐ hữu hình, tuy nhiên phan trong TMBCTC cần bổ sung thêm một số thông tin như: Giải thích lý do tai sao trong trường hợp đơn vị có TSCD vô hình đang được trích khấu hao trên 20 năm; Nguyên giá, số KHLK, GTCL và thời gian khấu hao còn lại của từng TSCD vô hình có vị trí quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của DN; Giá trị hợp lý của TSCĐ vô hình do Nhà nước cấp (Quy định tại Doan 30, trong đó ghi rõ: Giá trị hợp lý khi ghi nhận ban đầu, Giá trị KHLK, GTCL của tài sản); Phản ánh đầy đủ và rõ ràng các khoản chỉ phí phát sinh trong giai đoạn nghiên cứu và ghi nhận các chỉ phí trong giai đoạn triển khai là chỉ phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.T6 chức công tác kế toán tài sản có định TSCD của doanh nghiệp là các tai sản có giá trị lớn cần phải được quan lý đơn chiếc. Để công tác quản lý TSCĐ dễ dàng và hợp lý, kế toán phải đánh số và ghi số theo từng đối tượng ghi TSCĐ.
Mỗi đối tượng ghi TSCĐ phải có số hiệu riêng. Việc đánh số TSCD là do các DN quy định tùy theo điều kiện cụ thể của DN đó nhưng phải đảm bảo tính thuận tiện trong việc nhận biết TSCĐ theo nhóm, loại và tuyệt đối không trùng lặp. Kế toán TSCĐ bao gồm kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCD, kế toán KH TSCĐ, kế toán sửa chữa TSCD và kế toán các nghiệp vụ khác về TSCĐ. Về chứng từ Hach toán kế toán TSCD tại các DN hiện nay sử dụng chủ yếu các chứng từ sau: Hóa đơn bán hang, hợp đồng mua TSCD, biên bản bàn giao TSCD, phiếu xuất kho - nhập kho, biên bản kiểm kê (đối với trường hợp tăng TSCĐ); Biên bản thanh ly hợp đồng mua TSCD, quyết định thanh lý TSCD từ BGD, biên bản đánh giá lại TSCD (đối với trường hợp giảm TSCĐ) và biên bản nghiệm thu sửa chữa lớn hoàn thành, bảng phân bổ khấu hao TSCĐ đối với hạch toán khấu hao và sửa chữa TSCĐ.
Về sô sách Để phan ánh kip thời và trọn vẹn các tình trạng về TSCĐ, các DN thường sử dụng hệ thống các chứng từ số sách cho TSCD như: Thẻ kho TSCĐ; Các số chỉ tiết TSCD (có thể theo dõi theo từng bộ phận sử dụng hoặc phân loại TSCĐ); Số cái các tài khoản TSCD (211, 212, 213 và 214) và Bang phân bổ khấu hao TSCD Vè hệ thống tài khoản kế toán Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, trong quá trình hạch toán TSCĐ, TSCD được phân thành những nhóm khác nhau và sử dụng những tài khoản và tiểu khoản khác nhau. TK 211: “Tài sản cố định hữu hình” 2112: Nhà cửa,vật kiến trúc. 2114: Phương tiện vận tải, truyền thống. 2115: Thiết bị, dụng cụ quản lý.
2116: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm. TK212: “Tài sản cố định thuê tài chính” TK 213: “Tài sản cố định vô hình” 2131: Quyền sử dụng đất. 2132: Quyền phát hành. 2133: Bản quyền, bằng phát minh sáng chế.