CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHƯƠNG TRÌNH KIỂM TOÁN MẪU DO VACPA BAN HÀNH 1. KHÁT QUÁT CHUNG VỀ KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của khoản mục phải thu khách hàng 1. Khái niệm Trong mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp, những doanh nghiệp đóng vai trò người mua hàng thường cố gắng kéo dài thời hạn thanh toán.
Ngược lại, doanh nghiệp là nhà cung cấp thường mất khá nhiều thời gian để quản lý các khoản phải thu, để vừa giữ được khách hàng, vừa thu được tiền bán hàng. Nợ phải thu khách hàng là một trong những khoản mục quan trọng trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Là loại tài sản của DN thể hiện mối quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người mua phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ khi nghiệp vụ bán hàng và thu tiền diễn ra không cùng một thời điểm. Theo Điều 17, Chương 2, Thông tư 200/2014/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp ngày 22 tháng 12 năm 2014, “Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán, như: Phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính) giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu giữa công ty mẹ và công ty con, liên doanh, liên kết).
Khoản phải thu này gồm cả các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác thông qua bên nhận ủy thác.” Khoản nợ phải thu thể hiện phần tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị tổ chức kinh tế cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi. Chính vì vậy, khoản mục khoản phải thu khách hàng có ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình tài chính thanh toán cũng như khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp. Đặc điểm Trên BCĐKT, Nợ phải thu khách hàng được trình bày bên phần tài sản, gồm khoản mục phải thu khách hàng ghi theo số phải thu tổng cộng và khoản mục Dự SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang Trang 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Phan Thanh Hải phòng phải thu khó đòi được ghi âm.
Hiệu số giữa giá trị của hai khoản mục này sẽ phản ánh giá trị thuần có thể thực hiện được của nợ phải thu khách hàng. Khoản mục phải thu khách hàng có liên quan mật thiết đến kết quả kinh doanh, trước hết là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Do đó, đây là đối tượng để sử dụng các thủ thuật làm tăng doanh thu và lợi nhuận của đơn vị. Để đánh giá khả năng thanh toán thì người sử dụng BCTC thường dựa vào sự liên hệ giữa tài sản và công nợ.
Do đó, doanh nghiệp thường ghi tăng các khoản nợ phải thu khách hàng nhằm làm tăng khả năng thanh toán của đơn vị. Bên cạnh đó, khoản tiền thu được của doanh nghiệp là khoản phải thu từ khách hàng, nên nợ phải thu khách hàng là một loại tài sản khá nhạy cảm, rất dễ phát sinh gian lận, như dễ bị chiếm dụng, biển thủ tiền từ nhân viên. Các nguyên tắc ghi nhận khoản Nợ phải thu khách hàng Theo khoản 1, điều 18, chương 2, Thông tư 200/2014/TT – BTC, nguyên tắc kế toán khoản phải thu khách hàng được trình bày như sau: - Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ. Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành.
Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay. - Khoản phải thu của khách hàng cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng, từng nội dung phải thu, theo dõi chi tiết kỳ hạn thu hồi (trên 12 tháng hay không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo) và ghi chép theo từng lần thanh toán. Đối tượng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua sản phẩm, hàng hoá, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính. - Bên giao ủy thác xuất khẩu ghi nhận trong tài khoản này đối với các khoản phải thu từ bên nhận ủy thác xuất khẩu về tiền bán hàng xuất khẩu như các giao dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ thông thường.
- Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các khoản nợ, loại nợ có thể trả đúng hạn, khoản nợ khó đòi hoặc có khả năng không thu SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Phan Thanh Hải hồi được, để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khó đòi hoặc có biện pháp xử lý đối với khoản nợ phải thu không đòi được. - Trong quan hệ bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo thoả thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng, nếu sản phẩm, hàng hoá, BĐS đầu tư đã giao, dịch vụ đã cung cấp không đúng theo thoả thuận trong hợp đồng kinh tế thì người mua có thể yêu cầu doanh nghiệp giảm giá hàng bán hoặc trả lại số hàng đã giao. - Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu của khách hàng theo từng loại nguyên tệ.
Đối với các khoản phải thu bằng ngoại tệ thì thực hiện theo nguyên tắc: Kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh khoản nợ phải thu khách hàng, theo tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh khi thu hồi nợ phải thu khách hàng. Doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản phải thu của khách hàng có gốc ngoại tệ tại tất cả các thời điểm lập Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Kế toán khoản mục phải thu khách hàng 1. Hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách kế toán áp dụng đối với Nợ phải thu khách hàng a) Hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán áp dụng Chứng từ - Các hóa đơn: Hóa đơn bán hàng, hóa đơn GTGT (theo phương pháp trực tiếp hoặc khấu trừ), ủy nhiệm chi - Các chứng từ thanh toán: Phiếu thu (tiền mặt, séc), Giấy báo có (kê theo sao kê của ngân hàng) - Các đơn đặt hàng của khách hàng, các hợp đồng kinh tế, kí kết về bán hàng cung cấp dịch vụ, xác nhận công nợ phải thu - Các bản quyết toán, thanh lý hợp đồng bán hàng cung cấp dịch vụ - Các chứng từ vận chuyển Sổ sách - Sổ cái tài khoản 131, tài khoản 229 và các tài khoản liên quan khác - Sổ chi tiết tài khoản theo dõi công nợ phải thu theo từng khách hàng cụ thể - Bảng tổng hợp công nợ phải thu khách hàng - Bảng theo dõi tuổi nợ các tài khoản phải thu SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Phan Thanh Hải - Bảng kê trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng - Bảng đối chiếu công nợ gởi đến khách hàng - Các sổ sách theo dõi nợ đã xóa - Các quyết định xử lí các khoản phải thu khó đòi Báo cáo - Bảng cân đối kế toán - Báo cáo kết quả kinh doanh - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Thuyết minh báo cáo tài chính b) Tài khoản sử dụng Tài khoản 131 Phải thu khách hàng Bên Nợ: - Số tiền phải thu của khách hàng về sản phẩm, hàng hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ đã giao, dịch vụ đã cung cấp và được xác định là đã bán trong kỳ. - Số tiền thừa trả lại cho khách hàng. - Đánh giá lại các khoản phải thu bằng ngoại tệ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với Đồng Việt Nam). Bên Có: - Số tiền khách hàng đã trả nợ.
- Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng. - Khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng sau khi đã giao hàng và khách hàng có khiếu nại. - Doanh thu của số hàng đã bán bị người mua trả lại (có thuế GTGT hoặc không có thuế GTGT). - Số tiền chiết khấu thanh toán và chiết khấu thương mại cho người mua.
- Đánh giá lại các khoản phải thu bằng ngoại tệ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với Đồng Việt Nam). Số dư bên Nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng. Tài khoản này có thể có số dư bên Có. Số dư bên Có phản ánh số tiền nhận trước, hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng chi tiết theo từng đối tựng cụ thể.
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Phan Thanh Hải Khi lập bảng cân đối kế toán, phải lấy số dư chi tiết theo từng đối tượng phải thu của tài khoản này để ghi cả hai chi tiêu bên Tài sản và bên Nguồn vốn. Sơ đồ hạch toán phải thu khách hàng Sơ đồ 1. Sơ đồ hạch toán phải thu khách hàng SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Phan Thanh Hải 1. CÁC VẤN ĐỀ CỦA KIỂM TOÁN PHẢI THU KHÁCH HÀNG 1. Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng Theo khoản 11, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 200 Mục tiêu tổng thể của kiểm toán: - Mục tiêu của một cuộc kiểm toán nói chung và kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng nói riêng là thu thập các bằng chứng kiểm toán để chứng minh tính trung thực và hợp lý của khoản mục. Có thể nói, các khoản phải thu khách hàng trên Báo cáo tài chính được trình bày một cách trung thực, minh bạch và hợp lý xét trên khía cạnh trọng yếu.
Sau đây là một số mục tiêu mà kiểm toán phải đạt được khi kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng: - Tính hiện hữu: Các khoản phải thu khách hàng đã ghi chép đều có thực tại thời điểm lập báo cáo. - Tính đánh giá: Các khoản phải thi được ghi nhận đúng, các khoản dự phòng phải thu khó đòi được tính toán hợp lý để giá trị thuần của nợ phải thu của khách hàng gần đúng với giá trị thuần có thể thực hiện được - Tính đầy đủ: Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các khoản phải thu khách hàng đều được phản ánh trên sổ sách kế toán một cách đầy đủ và theo đúng niên độ của nó.