Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Quang Thịnh với đề tài "Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương" được thực hiện tại Học viện Tài chính dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS. Nguyễn Thị Đông (năm bảo vệ: 2018).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kế toán quản trị chi phí (KTQTCP) đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp thông tin phục vụ quản trị nội bộ, giúp các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định kinh doanh. Khác với kế toán tài chính (KTTC) hướng đến các đối tượng bên ngoài và chịu sự ràng buộc mang tính pháp lý, KTQTCP mang tính linh hoạt, hướng về tương lai và phục vụ trực tiếp cho việc tối ưu hóa chi phí sản xuất kinh doanh.

Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), có diện tích tự nhiên 849 $\text{km}^2$, tiếp giáp 6 tỉnh, thành phố và sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, đặc biệt là trữ lượng lớn đá vôi và đất sét tại thị xã Chí Linh và huyện Kinh Môn. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Hải Dương quy tụ 15 công ty sản xuất xi măng với các quy mô công nghệ khác nhau, đóng góp lớn cho ngân sách địa phương. Tuy nhiên, trước sức ép cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường và sự sụt giảm nguồn thu ngân sách từ ngành này, các công ty sản xuất xi măng tại Hải Dương đang đối mặt với nhiều khó khăn trong quản lý chi phí. Thực tế khảo sát cho thấy các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu tập trung vào KTTC và kế toán thuế nhằm đáp ứng việc lập báo cáo tài chính, chưa tổ chức vận dụng KTQTCP một cách bài bản và có hệ thống. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện KTQTCP tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục đích tổng quát: Nghiên cứu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
  • Mục đích cụ thể:
    1. Hệ thống hóa và góp phần bổ sung lý luận về KTQTCP trong các doanh nghiệp sản xuất;
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng KTQTCP tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương;
    3. Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến KTQTCP tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương;
    4. Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện KTQTCP từ kết quả nghiên cứu nhằm giúp các công ty sản xuất xi măng tại Hải Dương tham khảo áp dụng trong điều kiện hiện nay và định hướng đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Cơ sở lý thuyết về KTQTCP trong doanh nghiệp sản xuất là gì và vận dụng như thế nào đối với các công ty sản xuất xi măng?
  2. Thực trạng KTQTCP tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay như thế nào? Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân ra sao?
  3. Nhu cầu thông tin KTQTCP hiện nay và xu hướng tương lai của các cấp quản trị trong các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương là gì?
  4. Giải pháp và lộ trình phù hợp nào để hoàn thiện KTQTCP tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện hiện nay và tầm nhìn đến năm 2030?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về KTQTCP trong doanh nghiệp sản xuất và thực trạng công tác KTQTCP tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu toàn bộ 15 công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong đó tập trung phân tích số liệu minh chứng chuyên sâu tại 4 công ty đại diện cho các nhóm quy mô, hình thức sở hữu và công nghệ sản xuất:
    • Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hoàng Thạch: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam), sử dụng công nghệ lò quay hiện đại, chiếm khoảng 45% - 50% sản lượng toàn tỉnh;
    • Công ty Xi măng Phúc Sơn: Doanh nghiệp liên doanh giữa Tập đoàn Lucky (Đài Loan) với tỉnh Hải Dương, công nghệ lò quay hiện đại, chiếm 35% - 37% sản lượng toàn tỉnh;
    • Công ty TNHH Sản xuất Vật liệu Xây dựng Thành Công (Thành Công Group): Doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa, kết hợp dây chuyền lò quay và lò đứng, chiếm 4% - 6% sản lượng toàn tỉnh;
    • Công ty Cổ phần Xi măng Trung Hải: Doanh nghiệp quy mô nhỏ, công nghệ lò đứng, chiếm khoảng 1% - 2% sản lượng toàn tỉnh.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào công tác KTQTCP đối với sản phẩm xi măng; không nghiên cứu KTQTCP cho các sản phẩm khác ngoài xi măng.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thực trạng giai đoạn từ năm 2013 đến thời điểm nghiên cứu (2018), định hướng giải pháp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến KTQT và KTQTCP trong và ngoài nước:

Nhóm nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung chính và khoảng trống tiếp tục giải quyết
Quốc tế về KTQTCP và phương pháp ABC Mostaque Hussain (2000), Wingren (2005), Olga Tyukina (2010), Topor Ioan Dan (2013), Anand và ctg (2004), Nelson Waveru (2008), John Blaker và ctg (2008), Naughton-Trevers (2009), Sorial Capus (2012), Vvchudovets (2013). Nghiên cứu ứng dụng phương pháp xác định chi phí theo mức độ hoạt động (ABC), chỉ tiêu phi tài chính và quản trị chi phí theo ngành (ngân hàng, gỗ, rượu vang, đường). Các nghiên cứu này chưa gắn với điều kiện tổ chức quản lý và công nghệ sản xuất xi măng tại Việt Nam.
Trong nước về KTQTCP theo ngành Vũ Thị Kim Anh (2012 - vận tải đường sắt), Trần Thị Dự (2013 - chế biến thức ăn chăn nuôi), Nguyễn Thị Mai Anh (2014 - công ty nhựa niêm yết), Đào Thúy Hà (2015 - sản xuất thép), Lê Thị Minh Huệ (2016 - mía đường Thanh Hóa), Hoàng Thu Hiền (2016 - nội dung số), Nguyễn Phương Ngọc (2016 - nước sạch Miền Bắc). Đã làm rõ quy trình nhận diện, lập dự toán và tính giá thành theo đặc thù từng ngành, song chưa phân tích đặc thù sản xuất hai giai đoạn (clinker và xi măng) cùng sự khác biệt công nghệ lò quay - lò đứng trong ngành xi măng.
Tổ chức bộ máy và hệ thống KTQT Nguyễn Vũ Việt (2007), Huỳnh Lợi (2007), Hoàng Văn Tưởng (2010), Nguyễn Bích Hương Thảo (2015). Đề xuất các mô hình bộ máy KTQT nhưng chưa kết hợp cụ thể giữa tổ chức nhân sự với từng trung tâm chi phí và quy trình công nghệ sản xuất xi măng cụ thể.
Nghiên cứu về ngành xi măng Ngô Thị Thu Hương (2012), Trần Thị Thu Hường (2014). Phân tích mô hình KTQTCP trong các công ty xi măng nhưng chưa gắn kết sâu với việc phân quyền quản lý, đặc thù địa bàn cấp tỉnh và chưa vận dụng ma trận SWOT để làm tiền đề thiết kế hệ thống thông tin KTQTCP.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về KTQTCP áp dụng riêng cho các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương – địa bàn có đặc thù tập trung nhiều doanh nghiệp xi măng đa dạng về hình thức sở hữu và công nghệ.
  2. Chưa có mô hình KTQTCP kết hợp hoàn chỉnh giữa 7 nội dung nghiệp vụ: tổ chức bộ máy, nhận diện trung tâm chi phí, phân loại chi phí theo mức độ hoạt động, xác định chi phí theo đối tượng chịu chi phí, lập dự toán linh hoạt, tính giá thành theo quy trình công nghệ và hệ thống báo cáo phân tích biến động chi phí phục vụ quản trị.
  3. Chưa có công trình vận dụng mô hình phân tích SWOT đối với các công ty sản xuất xi măng tại Hải Dương để làm cơ sở định hướng các giải pháp KTQTCP.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án tiếp cận KTQTCP dưới góc độ là một phân hệ thông tin thuộc hệ thống KTQT, kế thừa các quan điểm lý thuyết quốc tế và trong nước:

  • Khái niệm và bản chất: Dựa trên các quan điểm của Colin Drury (2012), Morse, Davis & Hartgraves (2003), Hiệp hội Kế toán Công chứng Quốc tế (CGMA - 2017), ACCA (Paper F2), Horngren, Foster & Datar (2008, 2013), Hilton (2005), Viện Kế toán Quản trị Hoa Kỳ (IMA), Hansen & Mowen (2010), Luật Kế toán Việt Nam năm 2015, Thông tư 53/2006/TT-BTC và Giáo trình KTQT Đại học Kinh tế Quốc dân (Nguyễn Năng Phúc chủ biên, 2014).
  • Nội dung KTQTCP trong doanh nghiệp sản xuất: Luận án xác lập khung nghiên cứu gồm 7 nội dung cốt lõi:
    1. Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí (mô hình tập trung, phân tán, hỗn hợp; mối quan hệ tách biệt, kết hợp hoặc hỗn hợp giữa KTTC và KTQTCP);
    2. Nhận diện và xác định các trung tâm chi phí (TTCP chuẩn, TTCP định mức, TTCP tùy ý gắn với các trung tâm trách nhiệm);
    3. Nhận diện và phân loại chi phí (theo chức năng hoạt động, theo mối quan hệ với mức độ hoạt động: biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp; theo khả năng quy nạp; theo mục đích kiểm soát và ra quyết định);
    4. Phương pháp xác định chi phí cho các đối tượng chịu chi phí (theo công việc/đơn đặt hàng, theo quy trình sản xuất, theo hoạt động - ABC/TDABC, chi phí mục tiêu);
    5. Phương pháp lập định mức và dự toán chi phí (dự toán tĩnh, dự toán linh hoạt);
    6. Đánh giá sản phẩm dở dang và xác định giá thành sản phẩm (kết chuyển chi phí tuần tự, song song);
    7. Hệ thống báo cáo và phân tích báo cáo KTQTCP (báo cáo thực hiện, báo cáo kiểm soát và phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các công trình nghiên cứu, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tài chính, hệ thống sổ kế toán chi phí, báo cáo quản trị nội bộ từ 15 công ty xi măng tại Hải Dương và các website chuyên ngành (vicemhoangthach.com, thanhcong-group.vn, Hiệp hội Xi măng Việt Nam, Bộ Xây dựng).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp bằng 2 bộ phiếu điều tra tại 15 doanh nghiệp sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian 6 tuần:
    • Phiếu khảo sát nhà quản lý: 22 câu hỏi đóng và 01 câu hỏi mở, chia thành 5 nhóm nội dung (tình hình sử dụng và mức độ đáp ứng của thông tin KTQTCP; định mức và dự toán; trung tâm chi phí và kế toán trách nhiệm; báo cáo bộ phận và mức độ hài lòng; mong muốn cải thiện hệ thống).
    • Phiếu khảo sát cán bộ kế toán: 35 câu hỏi đóng và 01 câu hỏi mở, chia thành 5 nhóm nội dung (tổ chức công tác kế toán; nhận diện chi phí và kế toán trách nhiệm; định mức chi phí và lập dự toán; xác định chi phí và tính giá thành; lập và phân tích báo cáo KTQTCP).
    • Quy mô mẫu: Phát ra 30 phiếu (15 phiếu cho nhà quản lý, 15 phiếu cho cán bộ kế toán), thu về 30 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi 100%).
  • Phương pháp quan sát thực tế và nghiên cứu tài liệu: Trực tiếp tìm hiểu quy trình sản xuất (nghiền nguyên liệu, nung clinker, nghiền xi măng, đóng bao), cách thức phối hợp giữa các phòng ban và tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị khảo sát.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, tổng hợp, so sánh, phân loại và phân tích định tính để xử lý dữ liệu khảo sát, kết hợp ma trận SWOT nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về KTQTCP trong các doanh nghiệp sản xuất:

  • Bản chất và vai trò: Luận án khẳng định KTQTCP là một bộ phận không thể tách rời của KTQT, thực hiện chức năng thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin chi phí nhằm trợ giúp nhà quản trị thực hiện 5 chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, đánh giá thực hiện và ra quyết định kinh doanh.
  • Mô hình tổ chức bộ máy kế toán: Phân tích ba mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung trong mối quan hệ giữa KTTC và KTQTCP:
    • Mô hình KTTC tách biệt KTQTCP: Tách biệt các phần hành, phát huy tối đa vai trò KTQT nhưng làm tăng chi phí vận hành bộ máy.
    • Mô hình KTTC kết hợp KTQTCP: Nhân viên kế toán thực hiện đồng thời chức năng tài chính và quản trị, tiết kiệm chi phí nhưng dễ bị chi phối bởi kế toán tài chính.
    • Mô hình KTTC hỗn hợp KTQTCP: Kết hợp linh hoạt giữa các phần hành, vừa chia sẻ dữ liệu chung vừa có bộ phận chuyên trách KTQT.
  • Các nội dung kỹ thuật nghiệp vụ: Luận điểm chi tiết về phân loại chi phí theo ứng xử chi phí (biến phí, định phí), các phương pháp tính giá thành theo quy trình sản xuất (kết chuyển chi phí tuần tự từng khoản mục, kết chuyển tổng hợp hoặc song song), phương pháp xác định chi phí theo hoạt động (ABC) và quy trình xác định chi phí mục tiêu.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đúc rút bài học kinh nghiệm về KTQTCP từ các nước phát triển nhằm định hướng vận dụng phù hợp với đặc thù kinh tế Việt Nam.
+-------------------------------------------------------------------------------+
|                       CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ                       |
|                                                                               |
|   [ Lập kế hoạch ] ----> [ Tổ chức thực hiện ] ----> [ Kiểm tra, giám sát ]   |
|          |                         |                         |                |
|          v                         v                         v                |
|   [ Ra quyết định ] <-------------------------------- [ Đánh giá thực hiện ]  |
+-------------------------------------------------------------------------------+

Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể và phân tích thực trạng công tác KTQTCP tại địa bàn nghiên cứu:

  • Đặc điểm địa bàn và công nghệ sản xuất: Phân tích quy trình công nghệ sản xuất xi măng qua 2 giai đoạn chính: sản xuất clinker (khai thác đá vôi, đất sét $\rightarrow$ đập nghiền, đồng nhất sơ bộ $\rightarrow$ nghiền liệu thô $\rightarrow$ nung luyện trong lò quay/lò đứng ở nhiệt độ cao để tạo clinker) và nghiền clinker thành xi măng (clinker + thạch cao + phụ gia $\rightarrow$ nghiền mịn $\rightarrow$ đóng bao/xuất rời). So sánh chi tiết sự khác biệt giữa công nghệ lò quay (tự động hóa cao, chất lượng đồng đều, tiêu hao nhiệt năng thấp) và công nghệ lò đứng (thủ công, chất lượng không ổn định, tiêu hao năng lượng và ô nhiễm môi trường cao).
  • Thực trạng tại các công ty khảo sát:
    • Tổ chức bộ máy: 100% doanh nghiệp khảo sát áp dụng mô hình bộ máy kế toán kết hợp KTTC và KTQTCP; chưa có doanh nghiệp nào thành lập bộ phận KTQTCP chuyên trách độc lập.
    • Xác định trung tâm chi phí: Chưa nhận diện đầy đủ các trung tâm chi phí theo đúng bản chất của kế toán trách nhiệm; việc phân bổ chi phí chủ yếu dựa theo các phân xưởng sản xuất cơ bản mà chưa gắn trách nhiệm kiểm soát chi phí cho từng cấp quản lý.
    • Phân loại chi phí: Chủ yếu phân loại chi phí theo yếu tố và theo khoản mục giá thành phục vụ KTTC (Chi phí NVLTT, NCTT, SXC); chưa phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (biến phí, định phí) để phục vụ phân tích CVP hay lập dự toán linh hoạt.
    • Lập định mức và dự toán: Các đơn vị chỉ lập định mức kỹ thuật tiêu hao nguyên vật liệu chính, định mức chi phí sản xuất chung còn mang tính khái lược; dự toán chi phí chủ yếu lập dạng dự toán tĩnh theo năm, chưa lập dự toán linh hoạt theo từng mức công suất hoạt động.
    • Tính giá thành và báo cáo: Đánh giá sản phẩm dở dang chủ yếu theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc quy ước; hệ thống báo cáo phục vụ quản trị còn nghèo nàn, chủ yếu sử dụng lại các biểu mẫu của kế toán tài chính, thiếu các báo cáo phân tích biến động chi phí giữa thực tế và định mức.
  • Đánh giá chung: Luận án chỉ rõ kết quả đạt được (đáp ứng yêu cầu quản lý cơ bản của KTTC, kiểm soát được định mức vật tư lớn) và các hạn chế cốt lõi (thiếu thông tin KTQT phân tích chuyên sâu, chưa có kế toán trách nhiệm, chậm trễ trong cung cấp thông tin cho việc ra quyết định), đồng thời phân tích nguyên nhân do trình độ cán bộ kế toán, nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp và hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ.

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ xuất phát từ chiến lược phát triển ngành xi măng Việt Nam và tỉnh Hải Dương, có vận dụng mô hình phân tích SWOT:

  • Hoàn thiện tổ chức bộ máy KTQTCP: Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp, trong đó tại Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hoàng Thạch và Công ty Xi măng Phúc Sơn cần thành lập bộ phận/phần hành KTQTCP chuyên trách thuộc phòng kế toán; các doanh nghiệp nhỏ hơn (Thành Công, Trung Hải) bố trí nhân viên kiêm nhiệm phụ trách phần hành KTQTCP rõ ràng.
  • Hoàn thiện nhận diện trung tâm chi phí: Phân định rõ các trung tâm chi phí theo từng phân xưởng và phòng ban chức năng (Trung tâm chi phí khai thác nguyên liệu, TTCP nung clinker, TTCP nghiền xi măng, TTCP đóng bao, TTCP bảo dưỡng - động lực, TTCP bán hàng và TTCP quản lý doanh nghiệp).
  • Hoàn thiện phân loại chi phí: Xây dựng mô hình tách chi phí thành biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp cho từng khoản mục phát sinh tại các công ty xi măng, phục vụ kiểm soát và phân tích điểm hòa vốn.
  • Hoàn thiện lập định mức và dự toán chi phí: Xây dựng hệ thống định mức chi tiết cho từng loại sản phẩm xi măng (PCB30, PCB40...); thiết lập mô hình lập dự toán chi phí sản xuất linh hoạt theo các mức công suất hoạt động (ví dụ: 80%, 90%, 100% công suất thiết kế).
  • Hoàn thiện hệ thống báo cáo và phân tích biến động chi phí: Thiết kế hoàn chỉnh hệ thống báo cáo quản trị chi phí chuyên biệt gồm:
    • Báo cáo phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (tách thành biến động về lượng và biến động về giá);
    • Báo cáo phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp (biến động về năng suất và biến động về đơn giá nhân công);
    • Báo cáo phân tích biến động chi phí sản xuất chung và chi phí ngoài sản xuất;
    • Hệ thống sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung theo từng trung tâm trách nhiệm.
  • Điều kiện thực hiện: Đề xuất các điều kiện về phía cơ quan quản lý Nhà nước (hoàn thiện khung pháp lý về KTQT, ban hành hướng dẫn thực hành cụ thể) và về phía các công ty xi măng (đào tạo nhân lực kế toán, nâng cấp phần mềm quản trị ERP, nâng cao nhận thức quản trị của ban giám đốc).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý thuyết về KTQTCP trong các doanh nghiệp sản xuất, khẳng định KTQTCP là phân hệ cốt lõi của KTQT phục vụ toàn diện 5 chức năng quản trị doanh nghiệp.
  2. Xác lập cấu trúc nội dung KTQTCP gồm 7 bộ phận gắn kết chặt chẽ với quy trình sản xuất liên tục nhiều giai đoạn trong ngành công nghiệp xi măng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện và có hệ thống về công tác KTQTCP tại 15 công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, chỉ rõ những khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn áp dụng tại 4 doanh nghiệp đại diện cho các mô hình sở hữu và công nghệ sản xuất khác nhau.
  2. Vận dụng ma trận SWOT để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các công ty xi măng tại Hải Dương trong bối cảnh cạnh tranh thị trường, làm căn cứ định hướng hoàn thiện hệ thống KTQTCP.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi cao, bao gồm:
    • Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp phù hợp với quy mô doanh nghiệp;
    • Bảng phân loại chi phí theo mức độ hoạt động đặc thù ngành xi măng;
    • Mẫu bảng dự toán chi phí sản xuất linh hoạt;
    • Bộ mẫu báo cáo phân tích biến động chi phí (NVLTT, NCTT, SXC) và hệ thống sổ chi tiết chi phí theo trung tâm trách nhiệm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chuyên sâu tại 15 công ty trên địa bàn tỉnh Hải Dương và tập trung phân tích số liệu tại 4 doanh nghiệp điển hình, do đó phạm vi nghiên cứu mang tính đặc thù địa phương và chưa mở rộng khảo sát trên quy mô toàn bộ các nhà máy xi măng trên cả nước. Ngoài ra, nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi sản phẩm xi măng mà chưa đi sâu vào các sản phẩm phụ hoặc ngành nghề kinh doanh phụ trợ khác của các công ty.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu KTQTCP cho toàn bộ các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (Vicem) trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu tích hợp sâu hơn giữa phương pháp xác định chi phí theo hoạt động thời gian (TDABC) và hệ thống kế toán chi phí môi trường trong ngành sản xuất xi măng.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các doanh nghiệp sản xuất xi măng: Cung cấp bộ công cụ thực hành hoàn chỉnh (mô hình bộ máy, bảng phân loại chi phí, mẫu dự toán linh hoạt, mẫu báo cáo phân tích biến động) giúp các nhà quản lý doanh nghiệp xi măng tại Hải Dương và các địa phương tương đồng tái cấu trúc hệ thống thông tin kế toán quản trị.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kế toán: Là tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định tính, kỹ thuật thiết kế phiếu khảo sát thực trạng KTQTCP và kinh nghiệm tiếp cận nghiên cứu KTQTCP theo đặc thù công nghệ sản xuất công nghiệp nặng.
  • Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Là cơ sở thực tiễn giúp Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và UBND tỉnh Hải Dương xây dựng các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và hoạch định chiến lược phát triển bền vững ngành xi măng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn khảo sát thực tế tại các công ty nào trên địa bàn tỉnh Hải Dương?

Tác giả tiến hành khảo sát toàn bộ 15 công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương và tập trung thu thập số liệu, phân tích chuyên sâu tại 4 công ty điển hình:

  • Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hoàng Thạch (100% vốn nhà nước, công nghệ lò quay, chiếm 45% - 50% sản lượng toàn tỉnh);
  • Công ty Xi măng Phúc Sơn (doanh nghiệp liên doanh với Đài Loan, công nghệ lò quay, chiếm 35% - 37% sản lượng toàn tỉnh);
  • Công ty TNHH Sản xuất Vật liệu Xây dựng Thành Công (doanh nghiệp tư nhân, công nghệ lò quay kết hợp lò đứng, chiếm 4% - 6% sản lượng toàn tỉnh);
  • Công ty Cổ phần Xi măng Trung Hải (doanh nghiệp quy mô nhỏ, công nghệ lò đứng, chiếm 1% - 2% sản lượng toàn tỉnh).

2. Sự khác biệt về công nghệ sản xuất ảnh hưởng như thế nào đến công tác KTQTCP trong luận án?

Quy trình sản xuất xi măng trải qua 2 giai đoạn công nghệ chính là sản xuất clinker và nghiền xi măng. Luận án chỉ ra sự khác biệt lớn giữa 2 loại công nghệ:

  • Công nghệ lò quay: Dây chuyền hiện đại, mức độ tự động hóa cao, định mức tiêu hao nguyên nhiên liệu ổn định, phát sinh chi phí khấu hao tài sản cố định lớn, đòi hỏi hệ thống KTQTCP phải theo dõi chi tiết chi phí sản xuất chung và lập dự toán linh hoạt theo từng ca/lò nung.
  • Công nghệ lò đứng: Dây chuyền thủ công, tiêu hao than và điện năng biến động mạnh, chi phí nhân công trực tiếp cao, đòi hỏi KTQTCP phải tập trung kiểm soát chặt chẽ định mức tiêu hao vật liệu và biến động đơn giá nhân công.

3. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp của luận án được tiến hành ra sao?

Tác giả thiết kế 2 bộ phiếu khảo sát và phát trực tiếp đến 15 công ty sản xuất xi măng tại Hải Dương trong thời gian 6 tuần:

  • Bộ phiếu dành cho nhà quản lý gồm 22 câu hỏi đóng và 01 câu hỏi mở (chia thành 5 nhóm tiêu chí);
  • Bộ phiếu dành cho cán bộ kế toán gồm 35 câu hỏi đóng và 01 câu hỏi mở (chia thành 5 nhóm tiêu chí);
  • Tổng số phiếu phát ra là 30 phiếu (15 nhà quản lý, 15 cán bộ kế toán) và thu về 30 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 100%).

4. Tác giả đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện báo cáo KTQTCP?

Tác giả đề xuất thiết kế đồng bộ hệ thống báo cáo phân tích biến động chi phí phục vụ kiểm soát nội bộ định kỳ (tháng/quý), bao gồm:

  • Báo cáo phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (tách biệt ảnh hưởng do lượng tiêu hao và ảnh hưởng do giá mua vật tư);
  • Báo cáo phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp (tách biệt ảnh hưởng do năng suất lao động và mức đơn giá lương);
  • Báo cáo phân tích biến động chi phí sản xuất chung và chi phí ngoài sản xuất (chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp);
  • Hệ thống sổ chi tiết chi phí NVLTT, NCTT, SXC theo từng trung tâm chi phí (phân xưởng khai thác, nung clinker, nghiền xi măng, đóng bao).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quang Thịnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng tổ chức công tác này tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Dựa trên phân tích đặc thù công nghệ sản xuất hai giai đoạn (lò quay và lò đứng) cùng việc vận dụng mô hình SWOT, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ tổ chức bộ máy, nhận diện trung tâm chi phí, phân loại chi phí, lập định mức, dự toán linh hoạt đến hệ thống báo cáo phân tích biến động chi phí. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao đối với ngành sản xuất xi măng tại Hải Dương và công tác quản trị chi phí doanh nghiệp tại Việt Nam.