CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 1. Sự cần thiết của việc tổ chức kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh: 1. Đặc điểm nền kinh tế thị trường Việt Nam: Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa là hai hình thức tổ chức kinh tế xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Trong nền kinh tế tự nhiên, người sản xuất cũng đồng thời là người tiêu dùng, các quan hệ kinh tế đều mang hình thái hiện vật, bước sang nền kinh tế thị trường, mục đích của thương mại là trao đổi (để bán), sản xuất là để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Chính nhu cầu ngày càng cao của thị trường, đã hình thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hóa. Trong nền kinh tế hàng hóa do xã hội ngày càng phát triển nên quan hệ hàng hóa, tiền tệ ngày càng mở rộng cho dẫn đến sản phẩm hàng hóa ngày càng phong phú và đa dạng góp phần giao lưu văn hóa giữa các vùng và các địa phương. Kinh doanh thương mại thu hút trí lực và tiền của các nhà đầu tư để đem lại lợi nhuận. Kinh doanh thương mại có đặc thù riêng của nó, đó là qui luật hàng hóa vận động từ nơi giá thấp đến nơi giá cao, qui luật mua rẻ bán đất, qui luật mua của người có hàng hóa bán cho người cần.
Kinh doanh thương mại là điều kiện tiền đề để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Qua hoạt động mua bán tạo ra động lực kích thích đối với người sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, tổ chức tái sản xuất hình thành nên các vùng chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa. Thương mại đầu vào đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất. Thương mại đầu ra qui định tốc độ và qui mô tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp.
Kinh doanh thương mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới, thương mại làm nhu cầu trên thị trường trung thực với nhu cầu, mặt khác nó làm bộc lộ tính đa dạng và phong phú của nhu cầu. Khái niệm hoạt động tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh: Tiêu thụ: là quá trình đơn vị cung cấp thành phẩm, hàng hóa và lao vụ và dịch vụ cho đơn vị mua, qua đó đơn vị mua thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng theo giá đã thỏa thuận giữa đơn vị mua và các đơn vị bán. Thành phẩm hàng hóa được coi là tiêu thụ khi người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho người bán. Kết quả tiêu thụ hàng hóa: là kết quả cuối cùng về mặt tài chính của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nói cách khác, kết quả tiêu thụ là phần chênh lệch giữa doanh thu bán hàng, các khoản giảm trừ doanh thu với giá trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh thu: là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ hạch toán, phát sinh từ hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Chiết khấu thương mại: là các khoản tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ,hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng(sản phẩm, hàng hóa), dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng. Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ được doanh nghiệp bên bán chấp thuận một cách đặc biệt trên giá đã thỏa thuận trên hóa đơn, vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn ghi trong hợp đồng Xác định kết quả kinh doanh: là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã bỏ ra và thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ.
Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ. Việc xác định kết quả bán hàng thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp. Phương thức tiêu thụ: Việc tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau như tiêu thụ trực tiếp, giao hàng qua đại lý, bán trả góp, … 1. Phương thức tiêu thụ trực tiếp: Theo phương thức này thì hàng hóa bán trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc thông qua một đơn vị nào đó để đến tay người tiêu dùng.
Sản phẩm được xác định là tiêu thụ khi hàng hóa đã giao nhận xong và khách hàng chấp nhận thanh toán. Doanh thu bán hàng ghi theo giá chưa thuế nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và ghi theo giá thanh toán nếu doanh nghiệp không nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Phương thức bán hàng qua đại lý (ký gửi hàng): Đây là hình thức ký gửi hàng hóa, sản phẩm cho đại lý: Số lượng hàng hóa này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi được tiêu thụ. Khi giao hàng cho đại lý, nếu doanh nghiệp lập hóa đơn, lúc này hàng đã xác định tiêu thụ, nếu doanh nghiệp lập phiếu xuất kho hàng bán đại lý kế toán phản ánh hàng gửi đi bán, hàng được xác định tiêu thụ khi đại lý gửi báo cáo bán hàng định kỳ theo hợp đồng đã ký kết.
Khi bán hàng được ký gửi, doanh nghiệp sẽ trả cho đại lý một khoản hoa hồng tính theo tỉ lệ phần trăm tính theo giá ký gửi của hàng hóa gửi bán được. Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp: Doanh nghiệp nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm. Phương thức trao đổi: Theo phương thức này DN sẽ xuất hàng hóa, thành phẩm đem đi trao đổi với DN khác. Các phương thức khác: Thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho nhân viên bằng thành phẩm, sản phẩm.
6 Cung cấp sản phẩm dịch vụ cho nhà nước. Nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh: Phản ánh kịp thời, chính xác tình hình tiêu thụ hàng hóa, tính chính xác của các khoản giảm trừ doanh thu và thanh toán với ngân sách các khoản thuế phải nộp. Hạch toán chính xác các khoản chi phí về bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Lập báo cáo về tình hình tiêu thụ hàng bán, báo cáo kết quả tiêu thụ, định kỳ phân tích tình hình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp.
Xác định kết quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Hạch toán tiêu thụ hàng hoá: 1. Kế toán doanh thu bán hàng: 1. Khái niệm và điều kiện ghi nhận doanh thu: Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu được từ các hoạt động giao dịch như bán sản phẩm hàng hóa cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Điều kiện ghi nhận doanh thu: Bán hàng được ghi nhận doanh thu khi thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện sau: Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. Doanh nghiệp không nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Chứng từ sử dụng: Một số chứng từ sử dụng khi hạch toán doanh thu bán hàng như sau: Hóa đơn bán hàng. Hóa đơn giá trị gia tăng. Phiếu xuất kho.
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ. 7 Phiếu thu, phiếu chi. Bảng kê bán lẻ hàng hóa. Chứng từ thanh toán khác.
Tài khoản sử dụng: TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp hàng hoá dịch vụ. Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu thực tế của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán. Tài khoản này chỉ phản ánh doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hoá đã bán được xác định là tiêu thụ trong kỳ, không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu tiền.4 Sổ sách sử dụng: Sổ chi tiết bán hàng: Sổ cái TK 511: 1. Phương pháp hạch toán: TK 531, 521.
TK 511 TK 111,112,131 K/c các khoản chiết khấu, Doanh thu tiêu thụ giảm giá, hàng bán bị trả hàng hoá chưa thuế Tổng TK 911 TK 33311 giá K/c doanh thu Thuế thanh thuần GTGT toán Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu: 1. Kế toán chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại: là khoản tiền chênh lệch giữa giá bán nhỏ hơn giá niêm yết do doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng, do người mua hàng đã mua với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã được ghi trên hợp đồng mua bán. Tài khoản sử dụng: TK 5211- Chiết khấu thương mại. Phương pháp hạch toán: NV1: Phản ánh chiết khấu thương mại thực tế phát sinh trong kỳ: Nợ TK 5211: Chiết khấu thương mại 8 Nợ TK 3331: Thuế GTGT phải nộp Có TK 111,112,131: Số tiền chiết khấu NV2: Cuối kỳ kết chuyển số tiền chiết khấu thương mại đã chấp thuận cho người mua sang tài khoản doanh thu: Nợ TK 511: Doanh thu bán hàng Có TK 5211: Chiết khấu thương mại 1.
Kế toán tiêu thụ bị trả lại: Hàng bán bị trả lại: Là số hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp đã tiêu thụ, đã xác định là doanh thu nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế và theo chính sách bảo hành sản phẩm, hàng hóa (hàng kém phẩm chất, sai qui cách chủng loại…. Đối với hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua trong đó ghi rõ lý do trả lại hàng, số lượng hàng bị trả lại và giá trị hàng bị trả lại. Bên mua phải kèm theo hóa đơn nếu trả lại toàn bộ và bản sao hóa đơn nếu trả lại một phần. Trường hợp bên mua đã nhập hàng sau đó tiến hành trả lại thì bên mua phải lập hóa đơn và ghi rõ hàng trả lại.
Tài khoản sử dụng: TK 5212 - Hàng bán bị trả lại.