Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại quốc tế, các giao dịch thương mại mở với phương thức bán hàng trả chậm chiếm tới hơn 80% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn cầu. Điều này thúc đẩy hoạt động bao thanh toán (Factoring) phát triển mạnh mẽ trên thế giới với quy mô đạt hơn 2.413 triệu EUR vào năm 2011. Tại Việt Nam, sau khi gia nhập WTO vào cuối năm 2006, nhu cầu tài trợ vốn lưu động của hơn 500.000 doanh nghiệp (trong đó hơn 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ) trở nên vô cùng cấp thiết. Mặc dù hành lang pháp lý đã được thiết lập từ năm 2004, quy mô doanh số bao thanh toán tại thị trường Việt Nam năm 2011 chỉ đạt 67 triệu EUR, tương đương khoảng 1,004% so với thị trường Singapore (6.670 triệu EUR).

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là làm sáng tỏ những nút thắt cản trở sự phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa lý luận và kinh nghiệm quốc tế về bao thanh toán; phân tích thực trạng triển khai hoạt động này tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giai đoạn 2005 - 2012; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống Vietcombank với mạng lưới 78 chi nhánh trên cả nước, đặt trong bối cảnh so sánh với thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam và các quốc gia thành viên Hiệp hội Bao thanh toán Quốc tế (FCI). Về mặt ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở định lượng giúp các định chế tài chính đa dạng hóa sản phẩm thu ngoài lãi, nâng cao tỷ suất sinh lời và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ứng trước từ 80% đến 90% giá trị khoản phải thu mà không phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp truyền thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên Công ước UNIDROIT năm 1988 về bao thanh toán quốc tế và hệ thống tiêu chuẩn nghiệp vụ của Tổ chức Bao thanh toán Quốc tế (Factors Chain International - FCI), mạng lưới thành lập năm 1968 với 266 thành viên tại 73 quốc gia. Theo khung lý thuyết này, bao thanh toán là gói dịch vụ tài chính trọn gói kết hợp 4 chức năng cơ bản: tài trợ vốn hoạt động, quản lý sổ nợ, thu hộ khoản phải thu và bảo hiểm rủi ro tín dụng.

Luận văn vận dụng mô hình đánh giá sự phát triển dịch vụ ngân hàng thông qua 5 nhóm tiêu chí định lượng và định tính: tăng trưởng doanh thu, mở rộng thị phần, gia tăng cơ cấu khách hàng, mức độ đa dạng hóa sản phẩm và độ mạnh thương hiệu. Nghiên cứu chuẩn hóa 4 nhóm khái niệm cốt lõi:

  1. Bao thanh toán trong nước và xuất nhập khẩu: phân định theo vị trí cư trú của bên bán và bên mua hàng hóa.
  2. Bao thanh toán có truy đòi và miễn truy đòi: phân định theo nghĩa vụ chịu rủi ro tín dụng cuối cùng khi bên mua mất khả năng thanh toán.
  3. Bao thanh toán chiết khấu và khi đáo hạn: phân định theo thời điểm cấp vốn ứng trước hay chi trả tại ngày đáo hạn của chứng từ.
  4. Bao thanh toán từng lần và theo hạn mức: phân định theo tính chất đơn lẻ hoặc liên tục của quan hệ tài trợ thương mại.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng dựa trên chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2005 - 2012.

Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn bộ 78 chi nhánh, 1 sở giao dịch và báo cáo tài chính thường niên của Vietcombank qua 5 năm liên tiếp (2008 - 2012), kết hợp dữ liệu thống kê chuỗi thời gian 7 năm (2005 - 2011) của FCI về doanh số của 1.393 đơn vị bao thanh toán toàn cầu.

Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu định đoạn điển hình (purposive sampling), tập trung phân tích sâu vào các chi nhánh trọng điểm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng, nơi chiếm hơn 85% tổng kim ngạch thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại của toàn hệ thống Vietcombank.

Phương pháp phân tích: Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tốc độ tăng trưởng liên hoàn và so sánh tỷ trọng cơ cấu. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh trung thực biến động doanh số bao thanh toán còn non trẻ tại Việt Nam, đồng thời lượng hóa sự chênh lệch thị phần so với các thị trường phát triển trong khối ASEAN (như Singapore, Thái Lan) và châu Á (như Trung Quốc với doanh số 274.870 triệu EUR năm 2011).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng tại Vietcombank và thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng doanh số biến động mạnh và chưa bền vững. Doanh số bao thanh toán toàn quốc tăng từ 2 triệu EUR năm 2005 lên mức đỉnh 95 triệu EUR vào năm 2009 (tăng hơn 47 lần), nhưng sau đó sụt giảm mạnh xuống 65 triệu EUR năm 2010 và chỉ tăng nhẹ lên 67 triệu EUR vào năm 2011 (tăng trưởng 3,08%).

Thứ hai, có sự chuyển biến rõ nét trong cơ cấu sản phẩm. Năm 2005, doanh số bao thanh toán quốc tế hoàn toàn bằng 0 triệu EUR (nội địa chiếm 100%). Đến năm 2011, bao thanh toán quốc tế đã tăng lên 25 triệu EUR (chiếm tỷ trọng 37,31%), trong khi bao thanh toán nội địa đạt 42 triệu EUR (chiếm 62,69%).

Thứ ba, quy mô thị trường còn rất khiêm tốn so với khu vực và tiềm năng kinh tế. Doanh số 67 triệu EUR của Việt Nam năm 2011 chỉ bằng 1,004% của Singapore (6.670 triệu EUR) và thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia châu Á như Nhật Bản (111.245 triệu EUR) hay Đài Loan (52.320 triệu EUR).

Thứ tư, cơ cấu sản phẩm tại Vietcombank còn đơn điệu, khi trên 95% hợp đồng thực hiện là bao thanh toán có truy đòi. Hình thức bao thanh toán miễn truy đòi vốn là sản phẩm chủ lực trên thế giới (chiếm hơn 80% tại châu Âu) lại hầu như chưa được triển khai hiệu quả.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ những rào cản mang tính hệ thống. Về pháp lý, Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN và Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN xem bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng, dẫn đến việc giới hạn an toàn 15% vốn tự có tính chung cho cả cho vay và bao thanh toán theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN. Điều này triệt tiêu lợi thế lớn nhất của bao thanh toán là hỗ trợ vốn lưu động linh hoạt ngoài bảng cân đối kế toán.

Về phía ngân hàng, tâm lý phụ thuộc vào tài sản thế chấp thay vì đánh giá xếp hạng tín nhiệm của bên mua hàng vẫn chiếm ưu thế. Đội ngũ nhân sự chuyên trách tại 78 chi nhánh còn mỏng và chưa có phần mềm quản lý công nợ độc lập. Về phía thị trường, hơn 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có thói quen kiểm toán tài chính minh bạch, trong khi các bên vẫn quen thuộc với phương thức ghi sổ (chiếm 81%) hoặc L/C truyền thống (chiếm 10%).

Nếu dữ liệu được thể hiện qua biểu đồ kết hợp giữa cột doanh số giai đoạn 2005 - 2011 và đường thị phần ASEAN, ta sẽ thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa tiềm năng tổng tài sản của Vietcombank (đạt 414.670 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 42.000 tỷ đồng năm 2012) với tỷ trọng doanh thu bao thanh toán thực tế, đòi hỏi một sự chuyển dịch chiến lược quyết liệt.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán tại Vietcombank, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, tái cấu trúc mô hình tổ chức và nâng cấp tiếp thị. Ban điều hành Vietcombank cần thành lập Trung tâm Bao thanh toán chuyên trách tại Hội sở chính trong vòng 12 tháng, xây dựng chính sách phân quyền cho các chi nhánh lớn và đặt mục tiêu tăng trưởng doanh số dịch vụ này từ 30% đến 35%/năm trong giai đoạn 2013 - 2017.

Thứ hai, đa dạng hóa danh mục sản phẩm và linh hoạt hóa tỷ lệ cấp vốn. Khối Nguồn vốn và Tín dụng Vietcombank cần phối hợp với các tổ chức bảo hiểm tín dụng quốc tế trong mạng lưới FCI để phát triển dòng sản phẩm bao thanh toán miễn truy đòi cho các ngành hàng xuất khẩu chủ lực (dệt may, thủy sản, đồ gỗ), nâng tỷ lệ tài trợ ứng trước từ 80% lên mức tối đa 90% giá trị hóa đơn hợp lệ, hoàn thành triển khai trong 2 năm.

Thứ ba, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và quản trị rủi ro. Khối Công nghệ Vietcombank cần xây dựng phần mềm bao thanh toán điện tử (e-factoring) trong giai đoạn 2014 - 2016, tích hợp trực tiếp với cơ sở dữ liệu tín dụng CIC và hệ thống kết nối của hơn 1.300 ngân hàng đại lý quốc tế, nhằm rút ngắn thời gian thẩm định bên mua xuống dưới 48 giờ.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế vĩ mô và liên kết ngành. Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sửa đổi quy chế bao thanh toán trong giai đoạn 2014 - 2015 theo hướng tách biệt hạn mức bao thanh toán khỏi trần tín dụng 15% vốn tự có, ban hành hướng dẫn kế toán thuế rõ ràng; đồng thời Vietcombank cùng Vietinbank làm đầu mối thành lập Hiệp hội Bao thanh toán Việt Nam nhằm chia sẻ thông tin và giảm thiểu rủi ro gian lận hóa đơn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm cán bộ quản trị và chuyên viên tín dụng ngân hàng thương mại: Tham khảo quy trình thẩm định khoản phải thu, phương pháp định giá phí dịch vụ và kỹ thuật phân tán rủi ro khi cung cấp giải pháp tài trợ thương mại không cần tài sản bảo đảm.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nắm bắt cách thức khai thác dòng vốn lưu động nhanh chóng thông qua việc chuyển nhượng hóa đơn, rút ngắn chu kỳ thu hồi công nợ từ 60 - 90 ngày xuống còn 24 giờ, từ đó nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Sử dụng các dữ liệu thực chứng và phân tích bất cập pháp lý làm căn cứ sửa đổi văn bản quy phạm, hoàn thiện quy định về chuyển nhượng quyền đòi nợ và cơ chế an toàn vốn.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu học thuật chuyên sâu về tài trợ chuỗi cung ứng, cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm giai đoạn 2005 - 2012 phục vụ các công trình nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Bao thanh toán có điểm gì khác biệt cốt lõi so với cho vay thấu chi hoặc thế chấp truyền thống? Bao thanh toán là nghiệp vụ tài trợ vốn lưu động dựa trên việc mua lại các khoản phải thu thương mại hợp pháp mà không bắt buộc có tài sản thế chấp cố định. Ngân hàng cấp hạn mức ứng trước từ 80% đến 90% giá trị hóa đơn và chịu trách nhiệm theo dõi, thu hộ nợ từ bên mua hàng.

Tại sao doanh số bao thanh toán tại Việt Nam năm 2011 chỉ đạt 67 triệu EUR, rất thấp so với khu vực? Nguyên nhân chủ yếu do khung pháp lý khống chế trần an toàn 15% vốn tự có tính gộp cả tín dụng, thiếu cơ chế bảo hộ quyền đòi nợ rõ ràng, cùng thói quen của hơn 90% doanh nghiệp vẫn sử dụng phương thức thanh toán ghi sổ (81%) hoặc L/C truyền thống (10%).

Doanh nghiệp xuất khẩu nhận được lợi ích gì khi ngân hàng tham gia tổ chức bao thanh toán quốc tế FCI? Khi ngân hàng là thành viên của FCI (mạng lưới quy tụ 266 thành viên tại 73 quốc gia), doanh nghiệp được thẩm định uy tín đối tác ngoại chính xác, được bảo hiểm 100% rủi ro không thanh toán trong giao dịch miễn truy đòi và tiết kiệm tối đa chi phí quản lý công nợ quốc tế.

Ngân hàng thương mại cần thỏa mãn điều kiện tài chính nào để được cấp phép thực hiện bao thanh toán? Theo quy định pháp luật hiện hành, ngân hàng phải có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% trên tổng dư nợ trong 3 tháng liên tiếp gần nhất, tuân thủ nghiêm ngặt các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động và có giấy phép hoạt động ngoại hối nếu thực hiện bao thanh toán xuất nhập khẩu.

Doanh nghiệp cần chuẩn bị những điều kiện gì để được Vietcombank chấp thuận bao thanh toán? Doanh nghiệp cần sở hữu hợp đồng mua bán thương mại hợp pháp với điều khoản trả chậm minh bạch, lịch sử giao hàng không xảy ra tranh chấp công nợ, chứng từ hóa đơn gốc đầy đủ và bên mua hàng có lịch sử tín dụng lành mạnh theo đánh giá của ngân hàng.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam thông qua 5 đóng góp học thuật và thực tiễn:

  • Hệ thống hóa chuẩn mực quốc tế về bao thanh toán của UNIDROIT và FCI, làm rõ bức tranh thương mại toàn cầu với doanh số 2.413 triệu EUR năm 2011.
  • Phân tích chi tiết diễn biến thị trường Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011, chỉ rõ khoảng cách lớn so với các quốc gia trong khu vực như Singapore (6.670 triệu EUR).
  • Nhận diện chính xác 4 rào cản cốt lõi tại Vietcombank về hạn mức an toàn vốn 15%, sự thiếu vắng sản phẩm miễn truy đòi và hạn chế hạ tầng số hóa.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp vi mô đồng bộ từ thành lập trung tâm chuyên trách, ứng dụng e-factoring đến nâng tỷ lệ ứng trước lên 85% - 90%.
  • Đề xuất giải pháp vĩ mô khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế chuyển giao quyền đòi nợ và xúc tiến thành lập Hiệp hội Bao thanh toán Việt Nam.

Lộ trình thực hiện khuyến nghị được phân kỳ theo hai giai đoạn: giai đoạn 2013 - 2015 tập trung hoàn thiện mô hình tổ chức và hạ tầng số; giai đoạn 2015 - 2020 đẩy mạnh bao thanh toán xuất nhập khẩu và kết nối chuỗi cung ứng khu vực. Công trình là tài liệu giá trị, kêu gọi sự vào cuộc đồng bộ giữa các nhà hoạch định chính sách, ngân hàng thương mại và cộng đồng doanh nghiệp nhằm đưa bao thanh toán trở thành đòn bẩy tài chính quan trọng trong giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng.