Chương 1: Cơ sở lý luận về bao thanh toán Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BAO THANH TOÁN *** 1.1 Tổng quan về bao thanh toán 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động bao thanh toán BTT là một ngành kinh doanh được hình thành từ thời Trung cổ khi người ta bắt đầu giao thương với nhau và phát sinh các khoản nợ thương mại. BTT xuất phát từ đại lý hưởng hoa hồng, những người thực hiện việc mua bán và luân chuyển hàng hóa khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã.
Lúc này do hệ thống thông tin còn sơ khai nên các đại lý hoa hồng thực hiện chức năng marketing quan trọng, họ nắm giữ quyền sỡ hữu hàng hóa của nhà sản xuất nước ngoài (bên ủy nhiệm) rồi giao cho người mua trong nước, ghi sổ và thu nợ khi đến hạn, chuyển dư nợ cho bên ủy nhiệm sau khi trừ hoa hồng phí của mình. Vào thế kỷ 14 và 15, với sự phát triển toàn cầu của ngành công nghiệp Anh thì đại lý BTT trở nên quan trọng hơn. Khi các đại lý dần tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước, họ bắt đầu cấp tín dụng cho người ủy nhiệm mình với mong muốn lấy hoa hồng cao hơn. Do có những khoản ứng trước này mà đại lý hoa hồng tính thêm phí hoa hồng hay lãi suất, tuy nhiên các đại lý bắt đầu đảm bảo khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả nợ đúng hạn cho người ủy nhiệm trong tương lai, kể cả trong trường hợp người mua không trả được nợ đúng hạn.
Vào thời điểm Columbus phát hiện ra Châu Mỹ năm 1492, đại lý BTT đã phát triển từ vai trò duy nhất với chức năng marketing thành đóng hai vai trò vừa có chức năng tài chính vừa có chức năng marketing. Thế kỷ 16 chứng kiến sự bắt đầu của chế độ thực dân Mỹ và cùng với nó là vai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho BTT, đặc biệt là đối với những người thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Đến cuối thế kỷ 19, Mỹ phát triển thành một quốc gia chủ quyền và ít bị phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài. Công nghiệp sản xuất của Mỹ phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của hoạt động marketing đã làm cho vai trò marketing của các đại lý BTT bị giảm đi.
Tuy nhiên, một lần nữa các đại lý BTT lại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu kinh tế mới trong nước, tập trung vào tài chính, tín dụng, thu nợ, kế toán. Đầu thế kỷ 20, khi nền công nghiệp Mỹ phát triển các ngành may mặc, phụ kiện, đồ nội thất và thảm thì các đại lý BTT càng phát triển sang những lĩnh vực này. Đến giữa thế kỷ 20, nghiệp vụ BTT của Mỹ phát triển sang các ngành như: điện, hóa chất, sợi tổng hợp. Hoạt động BTT phát triển rầm rộ vào năm 1963 khi cơ quan kiểm soát tiền tệ Châu Âu công bố BTT là một hoạt động ngân hàng hợp pháp thì các ngân hàng mới bắt đầu đi vào lĩnh vực này.
Từ năm 1974 thì nghiệp vụ BTT được công nhận bởi hầu hết các quốc gia trên thế giới. BTT đã được chấp nhận như một tất yếu khách quan để đáp ứng nhu cầu tài chính của các doanh nghiệp, được các chính phủ và ngân hàng trung ương trên khắp thế giới hỗ trợ. BTT đã phát triển ở Anh, Pháp, Mỹ, Ý,.và nhanh chóng lan sang các nước Châu Á Thái Bình Dương với nhiều quốc gia tham gia trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản là các thị trường có doanh số hoạt động BTT cao nhất khu vực. Lịch sử hình thành BTT đã có từ lâu đời và ngày nay rất nhiều nước trên thế giới sử dụng BTT như một giải pháp tối ưu thúc đẩy quá trình buôn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ diễn ra thuận lợi và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, đối với Việt Nam, nghiệp vụ này vẫn còn khá mới mẻ trong hoạt động ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.2 Khái niệm bao thanh toán Công ƣớc về BTT quốc tế của UNIDROIT 1998 đã đưa ra định nghĩa như sau: “BTT là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại, giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.” Theo tổ chức BTT thế giới - FCI (Factors Chain International): “BTT là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ”. Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ BTT (đơn vị BTT), với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán trong quan hệ mua bán hàng hóa (bên bán). Theo như thỏa thuận, đơn vị BTT sẽ mua lại các khoản phải thu của bên bán, dựa trên khả năng trả nợ của bên mua trong quan hệ mua bán hàng hóa dịch vụ. Ngoài ra, theo một số tổ chức cung cấp dịch vụ BTT khác, BTT được định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung cấp tài trợ tài chính ngắn hạn, thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng, đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng.
Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạn mức tín dụng và thu hộ. Theo quy chế hoạt động BTT của các Tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 1096/2004/QĐ–NHNN ngày 06/09/2004 của Thống đốc NHNN và đƣợc sửa đổi theo Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008: “BTT là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ”.4 Các loại hình bao thanh toán 1.1 Theo phạm vi thực hiện - BTT trong nước: Là loại hình BTT dựa trên hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong đó bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ là những đơn vị cư trú trong một nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Quy trình thực hiện BTT trong nƣớc (Hệ thống một đơn vị BTT) (1) Bên bán hàng và bên mua hàng ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (2) Bên bán hàng yêu cầu tín dụng đối với đơn vị BTT.
(3) Đơn vị BTT thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình hình hoạt động và khả năng tài chính của bên mua hàng. (4) Đơn vị BTT trả lời tín dụng cho bên bán hàng. (5) Đơn vị BTT và bên bán hàng tiến hành ký kết hợp đồng BTT. (6) Bên bán giao hàng cho bên mua.
(7) Bên bán hàng chuyển nhượng bản gốc hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chứng từ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các chứng từ khác có liên quan đến khoản phải thu cho đơn vị BTT. (8) Đơn vị BTT ứng trước tiền cho bên bán hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng BTT. (9) Đơn vị BTT theo dõi và thu nợ khi đến hạn. (10) Bên mua hàng thanh toán tiền cho đơn vị BTT.
(11) Đơn vị BTT tất toán tiền với bên bán hàng theo quy định trong hợp đồng BTT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Bao thanh toán xuất nhập khẩu: là loại hình BTT dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong đó bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ là những đơn vị cư trú ở hai quốc gia khác nhau.2: Quy trình thực hiện BTT xuất nhập khẩu (Hệ thống hai đơn vị BTT) (1) Đơn vị xuất khẩu và nhập khẩu ký hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (2) Đơn vị xuất khẩu yêu cầu tín dụng đối với đơn vị BTT. (3) Đơn vị BTT tại nước xuất khẩu yêu cầu cấp tín dụng từ đơn vị BTT tại nước nhập khẩu.
(4) Đơn vị BTT nhập khẩu kiểm tra uy tín về mặt tín dụng của nhà nhập khẩu. (5) Đơn vị BTT nhập khẩu trả lời tín dụng cho đơn vị BTT xuất khẩu. (6) Đơn vị BTT xuất khẩu ký hợp đồng BTT với đơn vị xuất khẩu. (7) Đơn vị xuất khẩu giao hàng.
(8) Đơn vị xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đơn vị BTT xuất khẩu và đơn vị BTT xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đơn vị BTT nhập khẩu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 (9) Đơn vị BTT xuất khẩu ứng trước tiền cho đơn vị xuất khẩu. (10) Vào ngày đáo hạn, đơn vị BTT nhập khẩu đòi nợ đơn vị nhập khẩu. (11) Đơn vị nhập khẩu thanh toán tiền cho đơn vị BTT nhập khẩu.
(12) Đơn vị BTT nhập khẩu trích trừ phí và lãi (nếu có) rồi thanh toán tiền cho đơn vị BTT xuất khẩu. (13) Đơn vị BTT xuất khẩu thanh toán phần còn lại cho đơn vị xuất khẩu.2 Theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro - Bao thanh toán có truy đòi: Là loại hình BTT, theo đó đơn vị BTT có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu. - Bao thanh toán miễn truy đòi: Là loại hình BTT, theo đó đơn vị BTT chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu.