Chương 1: Những vấn đề chung về công tác thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng. Chương 2: Thực trạng công tác thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng tại Công ty TNHH XD TM DV Trọng Thanh. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng tại Công ty TNHH XD TM DV Trọng Thanh. Luận văn: THẠC SĨ KINH TẾ 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THANH, QUYẾT TOÁNHỢP ĐỒNG XÂY DỰNG 1.
ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM XÂY DỰNG VÀ NHỮNG ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN THANH, QUYẾT TOÁN DỰ ÁN KHI HOÀN THÀNH 1. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng - Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc: là những công trình đƣợc xây dựng và sử dụng tại chỗ, phân phối tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ, điều đó cho thấy sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặc chẽ vào điều kiện địa lý nơi đặt sản phẩm xây dựng, chứng tỏ sản phẩm xây dựng có tính đa dạng, cá biệt về công dụng và cách chế tạo. Ngoài những đặc điểm chung của sản phẩm xây dựng, thì sản phẩm xây dựng còn có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù của hoạt động xây dựng. - Sản phẩm xây dựng tiêu hao lớn về thời gian, nhân lực, vật lực: Do đặc thù của sản xuất xây dựng nên quá trình hình thành sản phẩm xây dựng thƣờng kéo dài, sản phẩm xây dựng đƣợc hình thành ngay từ ý tƣởng cho công tác lập dự án đến kết thúc xây dựng đƣa vào khai thác sử dụng.
Ngoài các khâu theo trình tự hình thành ở giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ cũng đã tiêu hao khoảng thời gian nhất định thì thời gian tiến hành xây dựng cũng tiêu tốn một lƣợng thời gian tuỳ theo quy mô, tính chất và các yêu cầu về kỹ thật của từng công trình. Do đó, khi tiến hành xây dựng phải huy động một lực lƣợng lớn nhân công, máy móc, thiết bị phục vụ thi công. - Sản phẩm xây dựng đƣợc hình thành do nhiều chủ thể tham gia trong quá trình xây dựng, bao gồm: Các chủ thể cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế, chế tạo, lắp đặt thiết bị,…. - Sản phẩm xây dựng là tổng hợp của nhiều bộ phận, kết cấu cấu thành từ nhiều loại nguyên, vật liệu tạo nên.
- Sản phẩm xây dựng đƣợc hình thành chủ yếu ở ngoài hiện trƣờng: Là những công trình đƣợc xây dựng và sử dụng tại chỗ, gắn liền với mặt đất, do đó sản phẩm xây dựng chủ yếu đƣợc sản xuất ngoài trời, đặc điểm này làm cho sản phẩm xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên nơi xây dựng công trình. - Sản phẩm xây dựng có giá trị lớn: sản phẩm xây dựng thƣờng có kích thƣớc và Luận văn: THẠC SĨ KINH TẾ 8 chi phí lớn, có thời gian kiến tạo và sử dụng lâu dài. Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nên các lảng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa chữa. Đặc điểm sản phẩm xây dựng ảnh hƣởng đến phƣơng thức thanh, quyết toán dự án.
- Sản phẩm xây dựng thƣờng đƣợc lắp đặt cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu. Công tác điều tra , khảo sát, thăm dò các điều kiện tự nhiên, không chính xác sẽ dẫn đến lãng phí phải sửa chữa, thậm chí phải dỡ bỏ do các lỗi thiết kế hoặc thi công. Từ đặc điểm này đòi hỏi công tác quản lý tài chính cần phải kiểm tra việc điều phối, sử dụng và quản lý vốn ngay từ khâu đầu tiên, xác định chủ trƣơng đầu tƣ, lựa chọn địa điểm, điều tra, khảo sát, thăm dò để dự án đầu tƣ đảm bảo tính khả thi cao. - Sản phẩm xây dựng thƣờng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, chi phí đầu tƣ lớn (vật tƣ, lao động, máy thi công…) do vậy trong công tác quản lý tài chính đòi hỏi phải làm tốt công tác kế hoạch vốn đầu tƣ, lập định mức công tác kỹ thuật và quản lý theo định mức, có giải pháp quản lý chi phí và quản lý công tác vốn đầu tƣ giữa chủ đầu tƣ với các nhà thầu, giữa chủ đầu tƣ với các cơ quan cấp phát cho vay vốn để đầu tƣ xây dựng.
- Sản phẩm xây dựng tiêu hao lớn về thời gian, do đó chế độ thanh toán thƣờng đƣợc quy định thành các “điểm dừng kỹ thuật” để làm giai đoạn nghiệm thu khối lƣợng, chất lƣợng. Điều này đòi hỏi các nhà thầu phải chuẩn bị đủ nguồn vốn nhằm đẩy nhanh tiến độ công trình hoàn thành hạng mục làm cơ sở cho việc thanh, quyết toán. - Công tác tổ chức sản xuất xây dựng phức tạp vì trong quá trình thi công thƣờng có nhiều chủ thể tham gia nhƣ: Tƣ vấn thiết kế, tƣ vấn giám sát, ban quản lý dự án, các nhà thầu thi công, nhà cung cấp vật tƣ thiết bị,… Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp tốt giữa các chủ thể tham gia trong quá trình xây dựng mới đảm bảo đúng tiến độ, làm căn cứ cho việc thanh, quyết toán. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Giá xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới, cải tạo, mở rộng hay trang bị lại kỹ thuật cho công trình.
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng nên giá xây dựng công trình đƣợc biểu thị bằng các tên gọi khác nhau và đƣợc xác định chính xác dần theo từng giai đoạn của quá trình đầu tƣ xây dựng công trình: - Giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ: Đó là tổng mức đầu tƣ xây dựng công trình hoặc sơ Luận văn: THẠC SĨ KINH TẾ 9 bộ tổng mức đầu tƣ. - Giai đoạn thực hiện dự án đầu tƣ: Giá xây dựng đƣợc gọi tùy theo mỗi chức năng và vị trí trong khâu của quá trình thực hiện đầu tƣ xây dựng ở mỗi đối tƣợng tham gia gồm: Dự toán xây dựng công trình; giá gói thầu; giá dự thầu; giá đề nghị trúng thầu; giá ký hợp đồng; giá thanh toán; quyết toán hợp đồng; - Giai đoạn kết thúc xây dựng đƣa dự án vào khai thác sử dụng: đó là quyết toán vốn đầu tƣ dự án hoàn thành, hạng mục đầu tƣ hoàn thành. Giá xây dựng công trình đƣợc xác định trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và các chế độ chính sách của Nhà nƣớc về quản lý kinh tế, tài chính phù hợp với tình hình khách quan của thị trƣờng ở từng thời kỳ và đƣợc quản lý theo luật xây dựng và các văn bản pháp quy dƣới luật của Nhà nƣớc. Giá xây dựng không những chứa đựng tất cả những đặc điểm chung của giá cả hàng hóa mà nó còn có một số đặc điểm riêng về giá, thể hiện đặc thù của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng: - Giá xây dựng mang tính đặc trƣng đơn chiếc: Do thời gian chế tạo; đƣợc đặt tại vùng địa lý khác nhau, sử dụng công nghệ khác nhau nên giá xây dựng hầu hết không thể có giá thống nhất do Nhà nƣớc hay nhà thầu quy định, mà chỉ có thể xác định giá xây dựng của dự án đầu tƣ xây dựng thông qua một trình tự đặc biệt, phù hợp với từng giai đoạn của quá trình đầu tƣ xây dựng.
- Giá xây dựng đƣợc xác định trong quá trình đầu tƣ xây dựng: Quá trình sản xuất xây dựng là quá trình hao phí vật tƣ, nhân lực, máy móc thiết bị, thời gian thƣờng khá dài, phải chia thành nhiều giai đoạn bởi các yêu cầu kỹ thuật để tiến hành từng bƣớc, từ tổng thể đến chi tiết. Để phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí theo các giai đoạn của quá trình đầu tƣ xây dựng, thì điều tất yếu là giá xây dựng phải đƣợc tính nhiều lần, có thứ bậc, có chức năng và mục đích khác nhau. Quá trình tính toán đƣợc nêu trong sơ đồ sau: Luận văn: THẠC SĨ KINH TẾ 10 TÊN GỌI CÁC CHI PHÍ CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN MỨC KHÁI TOÁN CHỌN PHƢƠNG ÁN ĐỘ CHÍNH TỔNG MỨC ĐẦU TƢ XÁC LẬP DỰ ÁN CỦA TỔNG DỰ TOÁN CHI THIẾT KẾ - DỰ TOÁN PHÍ GIÁ TRÚNG DỰ THẦU/HỢP ĐỒNG LỰA CHỌN NHÀ THẦU ÁN TĂNG GIÁ TRỊ THANH TOÁN DẦN THỰC HIỆN ĐẦU TƢ GIÁ TRỊ QUYẾT NGHIỆM THU, BÀN GIAO TOÁN HỢP ĐỒNG GIÁ TRỊ QUYẾT QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU TƢ TOÁN VỐN ĐẦU TƢ Sơ đồ 1.1: Giá xây dựng xác định trong quá trình đầu tư xây dựng. NGUỒN VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Nguồn vốn đầu tƣ xây dựng công trình gồm: nguồn vốn trong nƣớc và nguồn vốn ngoài nƣớc 1.
Nguồn vốn trong nƣớc - Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nƣớc: Bao gồm vốn của ngân sách nhà nƣớc, nguồn vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc và nguồn vốn đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp nhà nƣớc. - Nguồn vốn từ khu vực tƣ nhân: Bao gồm phần tiết kiệm của dân cƣ, phần tích lũy của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Luận văn: THẠC SĨ KINH TẾ 11 - Thị trƣờng vốn: là kênh bổ sung các nguồn vốn trung hạn và dài hạn cho các chủ đầu tƣ – bao gồm cả nhà nƣớc và các loại hình doanh nghiệp. Nguồn vốn ngoài nƣớc.
- Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI): là việc nhà đầu tƣ ở một nƣớc khác đƣa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để có đƣợc quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình - Viện trợ phát triển chính thức (ODA): thƣờng là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian dài từ Chính phủ các nƣớc, các tổ chức quốc tế cho các nƣớc đang phát triển. VỐN ĐẦU TƢ THUỘC NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Vốn đầu tƣ thuộc ngân sách Nhà nƣớc - Vốn trong nƣớc của các cấp ngân sách Nhà nƣớc ( Vốn của ngân sách Nhà nƣớc cân đối cho đầu tƣ xây dựng cơ bản của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ƣơng, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng…). Vốn ngân sách Nhà nƣớc đƣợc phân cấp quản lý nhƣ sau: + Vốn thuộc ngân sách trung ƣơng + Vốn thuộc ngân sách địa phƣơng.
- Vốn vay nợ nƣớc ngoài của Chính phủ cho đầu tƣ xây dựng cơ bản và vốn viện trợ của nƣớc ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền, cơ quan nhà nƣớc.