Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế và quản lý thuế. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và trực tiếp về công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Trước khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tìm hiểu một số nội dung của các đề tài được nghiên cứu trước đây có những phần liên quan như: - Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” [5]. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hoàng, Đại học Duy Tân, năm 2017. Tác giả trình bày khá hệ thống các vấn đề lý luận công tác quản lý thu NSNN ở địa phương, và đã chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý thu NSNN tại địa phương. Các hạn chế như: Việc lập dự toán thu ngân sách hàng năm chưa sát với đặc điểm tình hình KTXH của từng địa phương; một số địa phương vượt thu nhiều nhưng một số địa phương thu không đạt, gây tình trạng lúng túng trong điều hành thu chi ngân sách tại một số địa phương; có tình trạng thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập DN; trình độ của đội ngũ cán bộ thuế chưa chuyên sâu.
Từ đó tác giả đã đề ra các giải pháp để hoàn thiện công 11 tác quản lý thu NSNN tại địa phương. Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là chưa có giải pháp để tăng cường công tác thu các khoản nợ đọng, các giải pháp chống thất thu. nhằm giúp cho công tác quản lý thu NSNN được hoàn thiện. - Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng”.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Trương Thị Ngân, Đại học Duy Tân, năm 2020. [6] Luân văn đã: + Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về thu ngân sách nhà nước + Trình bày khá rõ nét các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý ngân sách của quận như: Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ; Tốc độ tăng trưởng kinh tế; Chính sách phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi; Bộ máy tổ chức thu; Năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện v. +Nêu lên kinh nghiệm về quản lý thu NS ở các quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng và quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng +Nhìn nhận các hạn chế trong công tác quản lý thu và đề xuất các nhóm giải pháp khả thi về quản lý thu NS quận Liên Chiểu như: Đẩy mạnh phân cấp thu NSNN tại quận; Nâng cao công tác quản lý, điều hành thu NS; Nâng cao hiệu quả công tác lập dự toán thu; Nuôi dưỡng và mở rộng nguồn thu trên địa bàn; Tăng cường công tác kê khai, quản lý thuế; Kiểm tra và đôn đốc thu, nộp thuế v. Hạn chế của đề tài là chưa đề cập rõ nét việc phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu.
-Luận văn Thạc sĩ "Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh Đắk Lắk do tác giả Nguyễn Thị Hoài An thực hiện năm (2017) [4] Sau khi khảo sát đề tài, tác giả nhận thấy: đề tài của tác giả Nguyễn Thị Hoài An đã đánh giá được thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắc 12 Lắc, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tăng cường quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc để nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đảm bảo trong việc kê khai, nộp thuế, chống thất thu thuế và tăng thu cho NSNN. Tuy nhiên về đối tượng đề tài nghiên cứu chỉ một loại thuế tài nguyên, các doanh nghiệp có quy mô lớn thuộc phạm vi địa bàn một tỉnh. Trong khi đối tượng quản lý thuế tại Chi cục thuế thành phố Hội An là nhiều loại thuế, các doanh nghiệp nhỏ và các hộ kinh doanh cá thể là chủ yếu, do đó những giải pháp của đề tài không sát với cấp Chi cục. Để quản lý thuế chặt chẽ, đạt yêu cầu thì cần phải căn cứ đặc điểm, tình hình của từng địa phương mà có biện pháp, giải pháp khác nhau cho phù hợp.
Do đó, tác giả đã tích cực tìm hiểu, tiến hành thu thập thông tin, tham khảo các công trình, luận văn khoa học, tham khảo thêm những thông tin trên các trang wed Bộ Tài Chính, các trang thông tin điện tử đề cập đến các quy định, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế. Tuy nhiên, do thời gian và không gian khác nhau nên luận văn nghiên cứu "Hoàn thiện công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế thành phố Hội An" mang tính kế thừa những cơ sở lý luận của các đề tài nghiên cứu trước đây, còn những phân tích, khảo sát, đánh giá về thực trạng và các giải pháp hoàn thiện nội dung mới mà tác giả sẽ tìm kiếm, đề xuất. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ 1.
Khái niệm về thuế Thuế được hiểu là một khoản đóng góp bằng tiền của công dân cho nhà nước. Thuế có tính xác định, không hoàn trả mà nó dựa trên hình thức công dân tự nguyện đóng góp thông qua con đường quyền lực. Việc đóng thuế nhằm mục đích bù đắp các chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước. Khái niệm thuế này được nhà kinh tế học Gastton Jeze tổng hợp và phát triển trong cuốn "Tài chính công".
Nếu hiểu một cách đơn giản dưới góc độ phân phối lại thu nhập thì thuế được hiểu là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Từ đó, nhằm mục đích hình thành nên ngân sách nhà nước. Khoản ngân sách này phục vụ chủ yếu do chi tiêu của nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của toàn bộ máy. Còn nếu đứng trên góc độ của người nộp thuế thì nó được hiểu là khoản đóng góp bắt buộc của mỗi cá nhân, tổ chức.
Đóng thuế được xem là nghĩa vụ cơ bản của mỗi công dân. Hay hiểu theo Luật quản lý thuế năm 2019, quy định tại khoản 1, điều 3: "Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế". Đặc điểm của thuế Thuế là một trong những chính sách quan trọng mà Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo cho việc duy trì nguồn ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, thuế có những đặc điểm đặc trưng phân biệt rõ rệt với các khoản thu khác của Nhà nước không phải là thuế.
Cụ thể có thể kể đến những đặc điểm cơ bản như sau: [2] Thứ nhất, thuế được xác định là những khoản nghĩa vụ do Nhà nước quy định phải nộp với những điều kiện nhất định, khi chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện đó thì bắt buộc phải thực hiện việc nộp thuế vào Ngân sách cho nhà nước. 14 Nhà nước ban hành các chính sách thuế nhằm mục đích đảm bảo việc thu nộp thuế của các chủ thể được thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Thuế được xác định là khoản nghĩa vụ mà các chủ thể bắt buộc phải thực hiện, bên cạnh các quy định về cách thức, mức nộp thuế pháp luật còn quy định về các chế tài đối với những trường hơp không nộp hoặc nộp không đầy đủ về khoản thuế mà mình đang có nghĩa vụ nhằm răn đe, đảm bảo công tác thu nộp thuế được thực hiện một cách nghiêm minh. Bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện pháp luật quy định đều phải có nghĩa vụ nộp thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện công tác thu thuế theo trình tự pháp luật quy định, không có bất kỳ sự ưu tiên cho đối tượng nào.
Thứ hai, thuế là khoản thu chứa đựng yếu tố quyền lực của nhà nước Sự xuất hiện của thuế gắn liền với nhà nước, thu thuế chính là một trong những biện pháp đảm bảo nguồn ngân sách của Nhà nước nhằm phát huy vai trò của Nhà nước đối với xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước đã ban hành và hệ thống hóa các chính sách về thuế vào các quy định của pháp luật nhằm để đảm bảo việc tuân thủ thực hiện nghĩa vụ thu nộp thuế khi các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện đều buộc phải tuân thủ. Tính quyền lực của nhà nước trong việc thu nộp thuế còn thể hiện qua việc Nhà nước ban hành các quy định về chế tài áp dụng đối với những trường hợp không tuân thủ các quy định về thu nộp thuế. Thứ ba, bản chất thuế không hoàn trả trực tiếp và không mang tính đối giá Thuế là khoản thu nộp mang tính chất đặc thù, Nhà nước ban hành quy định về các loại thuế phải nộp và điều kiện để đóng những loại thuế đó.
Như vậy, người nộp thuế chỉ cần đáp ứng những điều kiện mà pháp luật quy định thì đều phải có nghĩa vụ thực hiện đóng thuế bất kể có nhận được khoản lợi ích nào hay 15 chưa. Điều này hoàn toàn khác với việc đóng nộp phí và lệ phí, đó là những khoản mà người nộp thực hiện khi đã nhận được một lợi ích ngay từ phía nhà nước. Đối với thuế, người nộp thuế nhận được những lợi ích không thể xác định dưới dạng vật chất do thuế mang lại khi nhà nước thực hiện chức năng của mình. Điều này xuất phát từ mục đích của việc thu thuế chính là dùng để chi tiêu cho các sản phẩm công, người nộp thuế được hoàn trả gián tiếp như: Nhà nước đảm bảo an ninh quốc phòng, y tế, giáo dục,…Đây là những lợi ích chung mà cả người nộp thuế và người không có nghĩa vụ nộp thuế đều được hưởng không phụ thuộc vào số tiền thuế phải nộp.
Thứ tư, về phạm vi áp dụng của thuế: Có thể nói, thuế là chính sách được Nhà nước ban hành và áp dụng chung trên toàn phạm vi lãnh thổ, thực hiện đồng bộ, nhất quán giữa các địa phương không phân biệt. Tất cả những đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuế đều có nghĩa vụ thực hiện việc thu nộp thuế.