Khãa luËn tèt nghiÖp LỜI NÓI ĐẦU Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển không ngừng kéo theo sự thay đổi về hoạt động quản lý và cơ chế quản lý kế toán luôn luôn tồn tại gắn liền với quản lý. Do vậy ngày càng có nhiều cải tiến đổi mới về mọi mặt. Để đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Trong đó tiền lƣơng đƣợc coi là hàng đầu của chính sách kinh tế xã hội.
Nó liên quan trực tiếp đến cuộc sống lao động. Tiền lƣơng tác động đến sản xuất không chỉ từ phía sức lao động mà nó còn chi phối tình cảm, sự nhiệt tình của ngƣời lao động. Chính vì vậy mà công tác tổ chức tiền lƣơng trong các doanh nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng, nó đòi hỏi phải giải quyết hài hoà giữa 3 loại lợi ích sau. Nhà nƣớc, các doanh nghiệp và ngƣời lao động nhằm tạo ra điều kiện thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuất.
Trong cơ chế quản lý kinh tế, tiền lƣơng là một đòn bẩy quan trọng vì vậy cùng với sự đổi mới cơ chế kinh tế hiện nay đòi hỏi tiền lƣơng cũng không ngừng đổi mới sao cho phù hợp để thực sự là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ trong các doanh nghiệp. Đổi mới công tác tiền lƣơng không chỉ là yêu cầu đối với cơ quan cấp trên mà còn là yêu cầu của từng cơ sở sản xuất, của từng doanh nghiệp. Việc chi trả lƣơng hợp lý cho ngƣời lao động sẽ kích thích ngƣời lao động quan tâm đến sản xuất, tạo điều kiện phát triển sản xuất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Tổ chức tốt công tác hạch toán tiền lƣơng giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt quỹ lƣơng, bảo đảm việc chi trả lƣơng và trợ cấp bảo hiểm xã hội đúng nguyên tắc, đúng chế độ.
Vì vậy hạch toán kinh doanh trở thành một vấn đề cấp thiết có tầm quan trọng trong toàn bộ nền sản xuất của nƣớc ta hiện nay nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Việc thanh toán lấy thu bù chi có lãi vừa là động lực vừa là mục tiêu của các nhà sản xuất đòi hỏi phải quan tâm tới các khâu trong quá trình sản Hä vµ tªn: NguyÔn ThÞ Thïy – Líp QT1101K 1 Khãa luËn tèt nghiÖp xuất, đặc biệt đối với chi phí lao động phải đƣợc chú ý quan tâm nhiều nhất. Bởi vì nó là một trong những chi phí cấu thành nên giá trị sản phẩm. Việc sử dụng lao động hợp lý sẽ tiết kiệm đƣợc chi phí lao động sống, góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh thu cho doanh nghiệp, cải thiện nâng cao đời sống vật chất, và tinh thần cho ngƣời lao động.
Kết hợp giữa kiến thức đã học ở nhà trƣờng và qua thời gian thực tập, và cùng với sự hƣớng dẫn của cán bộ phòng kế toán ở công ty TNHH may Yes Vina em đã chọn chuyên đề: Hoàn thiện công tác Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương làm đề tài nghiên cứu. Nội dung chuyên đề gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận chung về tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng trong doanh nghiệp. Chƣơng II: Thực trạng công tác hạch toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Công ty TNHH May Yes Vina Chƣơng III: Một số ý kiến và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Công ty TNHH May Yes Vina Hä vµ tªn: NguyÔn ThÞ Thïy – Líp QT1101K 2 Khãa luËn tèt nghiÖp CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƢƠNG CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG I.
Khái niệm, vai trò và chức năng của tiền lƣơng. Khái niệm và bản chất của tiền lương. Lao động là một hoạt động chân tay và trí óc của con ngƣời nhằm biến đổi tác động một cách tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của con ngƣời. Trong mọi chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cải vật chất đều gắn liền với lao động.
Do vậy lao động là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời, là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất trong quá trình sản xuất. Sản xuất dù dƣới hình thức nào thì ngƣời lao động, tƣ liệu sản xuất và đối tƣợng lao động đều là những nhân tố không thể thiếu để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất xã hội nói chung và quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng thì một vấn đề thiết yếu là phải tái sản xuất sức lao động. Vì vậy khi họ tham gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải trả thù lao cho họ. Trong nền kinh tế thị trƣờng thì việc trả thù lao cho ngƣời lao động đƣợc biểu hiện bằng thƣớc đo giá trị và đƣợc gọi là tiền lƣơng.
Nhƣ vậy tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho ngƣời lao động theo thời gian, theo khối lƣợng công việc mà ngƣời lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp Về bản chất tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động. Mặt khác tiền lƣơng còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần làm việc hăng hái của ngƣời lao động, kính thích và tạo mối quan tâm của ngƣời lao động đến kết quả công việc của họ. Nói cách khác tiền lƣơng là một nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động. Hä vµ tªn: NguyÔn ThÞ Thïy – Líp QT1101K 3 Khãa luËn tèt nghiÖp I.
Vai trò và chức năng của tiền lương. Tiền lƣơng là một phạm trù kinh tế, nó gắn liền với lao động và nền sản xuất hàng hoá. Trong điều kiện còn tồn tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ thì tiền lƣơng còn là một yếu tố của chi phí sản xuất kinh doanh. Tiền lƣơng là nguồn thu nhập chủ yếu của ngƣời lao động, các doanh nghiệp thƣờng sử dụng tiền lƣơng làm đòn bẩy để khuyến khích tinh thần tích cực lao động là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động.
Vì vậy tiền lƣơng có các chức năng sau: I.1 Chức năng tái sản xuất sức lao động. Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vât chất, sức lao động cũng cần phải đƣợc tái tạo. Trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức lao động có sự khác nhau. Sự khác nhau này thể hiện bởi quan hệ sản xuất thống trị.
Song nhìn chung quá trình tái sản xuất sức lao động diễn ra trong lịch sử thể hiện rõ sự tiến bộ của xã hội. Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của những thành tựu khoa học - kỹ thuật mà nhân loại sáng tạo ra. Chính nó đã làm cho sức lao động đƣợc tái sản xuất ngày càng tăng cả về số lƣợng và cả về chất lƣợng. Quá trình tái sản xuất sức lao động đƣợc thực hiện bởi việc trả công cho ngƣời lao động thông qua tiền lƣơng.
Sức lao động là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn luôn đƣợc hoàn thiện và phát triển nhờ thƣờng xuyên đƣợc duy trì và khôi phục. Nhƣ vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho ngƣời lao động có một số lƣợng tiền lƣơng sinh hoạt nhất định để họ có thể: - Duy trì và phát triển sức lao động của chính mình. - Sản xuất ra sức lao động mới. - Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng lao động, tăng cƣờng chất lƣợng lao động.
Hä vµ tªn: NguyÔn ThÞ Thïy – Líp QT1101K 4 Khãa luËn tèt nghiÖp I. Chức năng là đòn bẩy kinh tế. Thực tế cho thấy rằng khi đƣợc trả công xứng đáng thì ngƣời lao động sẽ làm việc tích cực, sẽ không ngừng hoàn thiện mình hơn nữa và ngƣợc lại, nếu ngƣời lao động không đƣợc trả lƣơng xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp. Thậm chí nó sẽ có những cuộc đình công xảy ra, bạo loạn gây nên xáo trộn về chính trị, mất ổn định xã hội.
Ở một mức độ nhất định thì tiền lƣơng là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị và uy tín của ngƣời lao động trong gia đình, tại doanh nghiệp cũng nhƣ ngoài xã hội. Do đó cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của ngƣời lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp, để tính tiền lƣơng trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Chức năng điều tiết lao động. Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nƣớc thƣờng thông qua hệ thống thang bảng lƣơng, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động.
Nhờ đó tiền lƣơng đã góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội. Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội. Khi tiền lƣơng đƣợc trả cho ngƣời lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lƣơng cho toàn thể ngƣời lao động. Điều này có nghĩa trong công tác thống kê, giúp nhà nƣớc hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lƣơng tối thiểu để đảm bảo hợp lý thực tế luôn phù hợp với chính sách của nhà nƣớc.
Hä vµ tªn: NguyÔn ThÞ Thïy – Líp QT1101K 5 Khãa luËn tèt nghiÖp I. Chức năng công cụ quản lý nhà nước. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ngƣời sử dụng lao động đứng trƣớc hai sức ép là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất. Họ thƣờng tìm mọi cách có thể để làm giảm thiểu chi phí trong đó có tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động.