CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC 1. MỨC LAO ĐỘNG 1. Khái niệm lao động và mức lao động. “Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người, nhằm thoả mãn những nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người.”1 “Mức lao động là lượng lao động hao phí được quy định để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lượng, trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định.”2 Điều kiện tổ chức kỹ thuật gồm: + Trình độ tay nghề của người lao động.
+ Máy móc thiết bị sản xuất. + Nguyên, nhiên vật liệu. + Tổ chức phục vụ nơi làm việc. + Điều kiện lao động.
Khi một trong các điều kiện trên thay đổi thì mức lao động thay đổi 1. Các loại mức lao động. Để có thể sử dụng các thành tựu khoa học và những kinh nghiệm tiên tiến trong định mức lao động thì phải hiểu rõ và nắm chắc bản chất các loại mức được áp dụng trong thực tiễn. Các loại mức đó là: mức thời gian, mức sản lượng, mức phục vụ,… 1.
Mức thời gian. (Mtg) Mức thời gian là lượng thời gian hao phí cần thiết được quy định để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) cho một hay một nhóm người lao động của một nghề nào đó, có trình độ thành thạo tương ứng với mức độ phức tạp của công việc phải thực hiện trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất nhất định.PTS Phạm Đức Thành, PTS Mai Quốc Chánh (1998), Giáo trình Kinh tế lao động , Nxb Giáo dục, tr.5 2 Trường Cao đẳng lao động xã hội (2004), Giáo trình Định mức lao động, Nxb LĐ-XH, tr.12 Nông Thị Lan Phương 3 QTKD VT2 Luận văn thạc sĩ Thời gian hao phí Mtg = Số lượng sản phẩm sản xuất ra trong thời gian đó Đơn vị đo Mtg là giây, phút, giờ trên đơn vị sản phẩm. Mức sản lượng. (Msl) Mức sản lượng là số lượng sản phẩm (hoặc khối lượng công việc) quy định cho một hay một nhóm người lao động của một nghề nào đó, có trình độ thành thạo tương ứng với mức độ phức tạp của công việc phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian (ngày, giờ…)với điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất nhất định.
Mức sản lượng được xây dựng trên cơ sở mức thời gian và dùng công thức: Tca M sl = M tg Trong đó: Msl: Mức sản lượng Mtg: Mức thời gian Tca: Thời gian ca Mức sản lượng thường chỉ được xây dựng và áp dụng cho những công việc mà quá trình thực hiện có kết quả, được thể hiện dưới dạng vật chất và có thể nghiệm thu đo lường một cách dễ dàng bằng các đơn vị đo tự nhiên. Đơn vị đo Msl là đơn vị sản phẩm trên đơn Mtg (phút, giờ, ca). Nếu gọi x: % giảm mức thời gian y: % tăng mức sản lượng. 100 y 100 x x= và y= 100 + y 100 − x Mức thời gian sẽ giảm chậm hơn so với mức tăng của sản lượng, nên phải chú ý loại hình sản xuất nào thì áp dụng mức nào.
Mức phục vụ.(Mpv) Mức phục vụ là số lượng đơn vị thiết bị (máy móc, diện tích sản xuất, nơi làm việc.) được quy định cho một hay một nhóm người lao động phải phục vụ trong điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất nhất định. Nông Thị Lan Phương 4 QTKD VT2 Luận văn thạc sĩ Mức phục vụ thường được áp dụng trong điều kiện kết quả sản xuất không đo được bằng những số đo tự nhiên (chiếc, cái) và đối với công nhân phụ. Mức định biên. Là số lượng lao động được quy định để hoàn thành công việc (sản phẩm) trong những điều kiện tổ chức - kỹ thuật hợp lý và trình độ thành thạo của công nhân phù hợp với mức độ phức tạp của công việc.
(Mql) Là số lượng người hay bộ phận do một hay một nhóm người lãnh đạo phụ trách với trình độ thành thạo phù hợp với điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định. Mức lao động tổng hợp. Là lượng lao động sống của những người tham gia để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cụ thể. Lao động sống gồm: Lao động công nghệ, lao động quản lý, lao động phụ trợ.
Mức lao động sống chỉ sử dụng khi lập kế hoạch. Các điểm chung của các mức lao động: - Đều thể hiện sự quy định về tiêu hao thời gian lao động cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm hay một khối lượng công việc nào đó đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. - Các dạng biểu hiện của mức lao động luôn luôn gắn với điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định của sản xuất phù hợp với điều kiện tâm sinh lý của công nhân, đảm bảo trong quá trình lao động người công nhân không những sử dụng đầy đủ và có hiệu quả công suất của máy móc, thiết bị mà còn áp dụng được các phương pháp làm việc tiên tiến để không ngừng nâng cao năng suất lao động. ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm định mức lao động Nhà nghiên cứu kinh tế học lao động Liên Xô cũ Cotsin cho rằng: định mức lao động là xác định mức độ tham gia khách quan của người lao động trong tổng thể lao động xã hội, hay nói cách khác đó là việc quy định tiêu chuẩn lao động cho mọi người tham gia, sáng tạo ra thành quả lao động. Nông Thị Lan Phương 5 QTKD VT2 Luận văn thạc sĩ Theo Lênin: định mức lao động là định bao nhiêu người làm công việc đó. Như vậy: định mức lao động là lĩnh vực hoạt động về thực tiễn để xây dựng và áp dụng các mức lao động đối với tất cả các quá trình của người lao động. Cách khác: Đây là quá trình dự tính tổ chức thực hiện những biện pháp tổ chức kỹ thuật để thực hiện công việc có năng suất lao động cao, trên cơ sở đó xác định mức tiêu hao để thực hiện công việc.
Quá trình định mức lao động yêu cầu phải làm các công việc sau: - Nghiên cứu cụ thể điều kiện tổ chức kỹ thuật nơi sản xuất. - Đề ra và đưa vào sản xuất những biện pháp tổ chức kỹ thuật. - Xác định mức và đưa mức vào sản xuất - Quản lý và điều chỉnh mức. Nhiệm vụ của định mức lao động Nhiệm vụ cơ bản của công tác định mức lao động trong doanh nghiệp là nghiên cứu, phát hiện và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực của doanh nghiệp để không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế trong sản xuất- kinh doanh.
Từ nhiệm vụ cơ bản đó, công tác định mức lao động có các nhiệm vụ cụ thể như sau: - Nghiên cứu thường xuyên tình hình sử dụng thời gian lao động của mọi người lao động trong doanh nghiệp, phân tích khả năng sản xuất của tất cả các đơn vị, tham khảo kinh nghiệm sản xuất tiên tiến của các doanh nghiệp khác trên cơ sở đó mà xây dựng và sửa đổi các loại mức lao động trong doanh nghiệp. - Đưa các mức lao động có căn cứ khoa học vào sản xuất đồng thời thực hiện các biện pháp tổ chức- kỹ thuật- kinh tế đi đôi với giáo dục và nâng cao trình độ nhận thức của mọi người lao động trong doanh nghiệp về mức lao động, tạo mọi điều kiện cần thiết để họ tham gia vào quá trình xây dựng, thực hiện và hoàn thành vượt mức lao động. - Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, thống kê, phân tích và quản lý tình hình thực hiện mức lao động kết hợp với việc động viên khen thưởng vật chất đối với Nông Thị Lan Phương 6 QTKD VT2 Luận văn thạc sĩ những người đạt và vượt mức lao động, bảo đảm cho công tác định mức lao động thật sự là một công cụ quan trọng của quản lý doanh nghiệp. Định mức lao động bao gồm các nội dung sau: - Phân chia quá trình sản xuất ra thành các bộ phận hợp thành.
Xác định kết cấu, trình tự hợp lý để thực hiện các bộ phận của bước công việc. Phát hiện những bất hợp lý trong quá trình thực hiện, hoàn thiện chúng trên cở sở phân công và hiệp tác lao động một cách hợp lý. - Nghiên cứu khả năng ở nơi làm việc, cải thiện điều kiện lao động, hợp lý hóa phương pháp và thao tác lao động, xây dựng chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý. Các khả năng ở nơi làm việc bao gồm: + Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Thiết kế, quy hoạch nơi làm việc; Trang bị nơi làm việc; Bố trí nơi làm việc; Phục vụ nơi làm việc.
+ Tình hình máy móc thiết bị: Công suất máy móc thiết bị; Chủng loại máy móc thiết bị; Chất lượng máy móc thiết bị; + Tình hình về người lao động: Trình độ kỹ thuật, tay nghề (Cấp bậc công nhân) ; Sức khỏe; Tình hình sử dụng thời gian lao động. + Nguyên nhiên vật liệu: Số lượng; Chất lượng; Kích thước; Chủng loại. - Tiến hành khảo sát, xác định các loại thời gian làm việc và nguyên nhân gây nên những lãng phí để xây dựng mức, tiêu chuẩn lao động. - Đưa các mức, tiêu chuẩn đã được xây dựng vào sản xuất, thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện mức, điều chỉnh những mức sai, mức lạc hậu, có cơ chế thích hợp khuyến khích hoàn thiện định mức kỹ thuật lao động trong doanh nghiệp.
Ý nghĩa của việc xây dựng mức. Định mức lao động là môn khoa học kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu trong quản lý lao động. Đồng thời là một công tác khá phức tạp đòi hỏi người cán bộ định mức có trình độ rõ ràng. Mặt khác công tác định mức lao động có quan hệ trực tiếp đến quyền lợi người lao động, nhất là công nhân trực tiếp.
Vì vậy muốn làm tốt công tác định mức lao động ta phải làm cho mọi người trong doanh nghiệp thấy rõ đầy đủ khách quan của quản lý lao động, quản lý sản xuất. Có thực hiện tốt công tác Nông Thị Lan Phương 7 QTKD VT2 Luận văn thạc sĩ định mức lao động thì công nhân sản xuất mới có những mục tiêu cụ thể để phấn đấu thực hiện nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho bản thân họ. Với cán bộ làm công tác quản lý thì công tác định mức lao động là cơ sở để tiến hành tổ chức lao động hợp lý, xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh sát hợp và đánh giá được đầy đủ khả năng sản xuất của công nhân, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.