CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CỦA CÔNG TY KINH DOANH 1.1 Khái quát về chính sách xúc tiến thương mại 1.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm và bản chất xúc tiến thương mại Khái niệm xúc tiến thương mại Từ những năm đầu thế kỷ 20, khi mà khái niệm marketing dần được hình thành và phát triển thì trong kinh tế học cũng xuất hiện thuật ngữ “xúc tiến thương mại”. Xúc tiến thương mại là một biến số quan trọng không thể thiếu trong mô hình marketing hỗn hợp (marketing – mix) của một doanh nghiệp ở bất kì nền kinh tế nào. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm cũng như định nghĩa khác nhau về xúc tiến thương mại trong kinh doanh, trong đó khái niệm xúc tiến thương mại có thể được tiếp cận qua một số cách như sau: Theo cách truyền thống, có thể hiểu “Xúc tiến thương mại là hoạt động trao đổi và hỗ trợ trao đổi giữa người bán với người mua, hoặc qua khâu trung gian nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua bán qua đó thúc đẩy việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ chủ yếu nhằm mở rộng và phát triển thị trường”. Theo quan điểm của các tác giả Charles W.
Hair, Carl McDaniel (2011) [5, trang 471] thì “Xúc tiến thương mại là việc truyền tin giữa người bán và người mua hay những khách hàng tiềm năng khác nhằm tác động vào hành vi và quan điểm của người mua hàng. Chức năng xúc tiến thương mại chính của nhà quản trị marketing là mách bảo cho khách hàng mục tiêu biết đúng sản phẩm, đúng chỗ và đúng giá”. Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Xuân Quang (2007) [3, trang 201] thì “Xuất phát từ góc độ thương mại ở các doanh nghiệp, xúc tiến thương mại là các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại”. Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa (2005) [1, trang 312] thì “Xúc tiến thương mại là một lĩnh vực hoạt động marketing đặc biệt và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập mối quan hệ thuận lợi nhất giữa công ty và bạn hàng của nó với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối hợp triển khai năng động chiến lược và chương trình marketing – mix đã lựa chọn của công ty”.
Còn theo tác giả, xúc tiến thương mại được hiểu “là một hình thức hoạt động thông tin của doanh nghiệp nhằm tuyên truyền về hình ảnh doanh nghiệp và những lợi ích của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp tới các khách hàng mục tiêu để tìm kiếm, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và dịch vụ thương mại”. Bản chất của xúc tiến thương mại - Đối với bất kì tổ chức nào, xúc tiến thương mại bao giờ cũng là vấn đề cốt tử, là một công cụ vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các chiến lược và chương trình marketing của công ty. Hay nói cách khác hoạt động marketing của doanh nghiệp sẽ không thể thành công nếu như thiếu đi yếu tố này. - Mặt khác, xúc tiến thương mại là chức năng cung cấp thông tin tới các khách hàng mục tiêu về sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung cấp để từ đó thuyết phục họ mua sản phẩm và sử dụng dịch vụ.
- Xúc tiến thương mại bao gồm các thông điệp công ty được thiết kế để khơi dậy sự nhận thức, sự quan tâm của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ của công ty và tác động tới quyết định mua nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nhau của họ.2 Vai trò của xúc tiến thương mại - Xúc tiến thương mại tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển các mối quan hệ thương mại với bạn hàng trong và ngoài nước. Ban đầu, xúc tiến thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp trong cùng một dây chuyền sản xuất, cùng một hệ thống phân phối sản phẩm. Ngoài ra, nhờ có xúc tiến thương mại mà các doanh nghiệp có điều kiện tìm hiểu lẫn nhau và phát triển mối quan hệ hợp tác, buôn bán hai bên cùng có lợi. Hàng hóa cũng vì thế mà được đẩy mạnh lưu thông.
- Xúc tiến thương mại tạo điều kiện cho các công ty tồn tại và phát triển trên thị trường một cách có hiệu quả nhất. Bởi đây là công cụ hữu hiệu trong công cuộc chiếm lĩnh thương mại và phát triển tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Hoạt động xúc tiến thương mại không chỉ giúp cho các quyết định về sản phẩm, giá, phân phối trở nên hợp lý hơn mà còn tạo ra được những lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. - Xúc tiến thương mại cũng là chất xúc tác quan trọng để cung và cầu gặp nhau trên thị trường.
Trên thực tế, nhu cầu của khách hàng luôn phong phú và biến đổi không ngừng. Tuy nhiên, nhờ sự giao tiếp có hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại giữa công ty với các khách hàng tiềm năng trọng điểm mà sự vận động của nhu cầu và hàng hoá xích lại gần nhau hơn. Như vậy, xúc tiến thương mại là cầu nối giữa cung và cầu để các doanh nghiệp có thể gợi mở, kích thích và đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Qua đó giúp doanh nghiệp giảm được chi phí, rủi ro trong kinh doanh và nâng cao doanh số.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Mô hình tổng quát của xúc tiến thương mại Mô hình quá trình xúc tiến thương mại tổng quát được thể hiện qua hình 1.1 Thông điệp Người Người Mã hóa Giải mã nhận gửi Kênh truyền thông Nhiễu Liên hệ Phản ứng (Nguồn: Marketing thương mại, trang 321, GS.TS Nguyễn Bách Khoa, PGS.TS Nguyễn Hoàng Long, NXB Thống Kê, năm 2005) Hình 1.1: Mô hình quá trình xúc tiến thương mại tổng quát Mô hình này bao gồm 9 yếu tố thuộc 4 nhóm nhân tố sau: - Đối tác truyền tin: bao gồm người gửi và người nhận + Người gửi (bên phát thông điệp): công ty hoặc cá nhân nào đó có nhu cầu gửi thông tin cho khách hàng mục tiêu của họ. + Người nhận (nơi đến): đối tượng nhận tin do người gửi truyền tới. - Công cụ truyền tin: bao gồm thông điệp và kênh truyền thông + Thông điệp: tập hợp các biểu tượng chứa nội dung giao tiếp mà người gửi truyền. + Kênh truyền thông: các kênh truyền thông qua đó thông điệp được truyền từ người gửi tới người nhận.
- Chức năng truyền thông giao tiếp: bao gồm mã hóa, giải mã, đáp ứng và phản hồi. + Mã hóa: tiến trình truyền ý tưởng thành hình thức có tính biểu tượng. + Giải mã: tiến trình theo đó người nhận xử lý thông điệp để nhận tin và tìm hiểu ý tưởng mà bên kia gửi tới. + Đáp ứng: tập hợp các phản ứng của người nhận sau khi đã tiếp nhận thông điệp.
+ Phản hồi: một phần những đáp ứng của người nhận truyền ngược trở lại cho người gửi. - Nhiễu: là tình trạng biến lệch ngoài dự kiến trong quá trình truyền thông làm thông điệp đến với người nhận không trung thực với thông điệp được gửi đi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Khái niệm chính sách xúc tiến thương mại và hoàn thiện chính sách xúc tiến thương mại Khái niệm về chính sách được PGS.TS Ngô Kim Thanh đề cập đến trong cuốn giáo trình “Quản trị chiến lược” [4, trang 299] như sau: “Chính sách là phương tiện để đạt được các mục tiêu chiến lược đã đặt ra. Các chính sách bao gồm những văn bản hướng dẫn, các quy tắc và thủ tục được thiết lập để hỗ trợ cho các nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”.
Từ những định nghĩa về xúc tiến thương mại và khái niệm về chính sách đã nêu ở trên, theo ý hiểu của tác giả: “Chính sách xúc tiến thương mại là những nguyên tắc và định hướng trong việc chào hàng, chiêu khách, xác lập mối quan hệ thuận lợi nhất của công ty và bạn hàng của nó với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm để phối hợp triển khai các chiến lược và chương trình marketing hỗn hợp đã lựa chọn của công ty một cách năng động và hiệu quả nhất”. Khái niệm hoàn thiện chính sách xúc tiến thương mại trong khuôn khổ đề tài này được tác giả tiếp cận theo ý hiểu chính là “việc tìm kiếm cách thức, phương pháp thực hiện để điều chỉnh và triển khai một cách đầy đủ, hiệu quả nhất các chính sách xúc tiến thương mại đã có của công ty sao cho phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh”.2 Một số lý thuyết cơ bản về hoàn thiện chính sách xúc tiến thương mại của công ty kinh doanh Để hoàn thiện chính sách xúc tiến thương mại của công ty kinh doanh, các nhà làm marketing cần phải hiểu rõ quá trình xúc tiến thương mại bao gồm những yếu tố nào và hoạt động của chúng ra sao. Có rất nhiều lý thuyết khác nhau về vấn đề này. Ở đây, tác giả xin đưa ra hai quan điểm xúc tiến thương mại của GS Philip Kotler và GS.TS Nguyễn Bách Khoa.1 Lý thuyết liên quan đến xúc tiến thương mại của Philip Kotler Theo Philip Kotler [2] thì 5 công cụ chủ yếu trong hệ thống truyền thông marketing bao gồm: quảng cáo, marketing trực tiếp, kích thích tiêu thụ, quan hệ quần chúng và tuyên truyền, bán hàng trực tiếp.
Philip Kotler cũng đưa ra 8 bước chủ yếu để thực hiện một chương trình truyền thông và khuyến mãi toàn diện bao gồm: - Phát hiện công chúng mục tiêu. - Xác định mục tiêu truyền thông. - Thiết kế thông điệp. - Lựa chọn các kênh truyền thông.
- Phân bổ tổng ngân sách khuyến mãi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quyết định hệ thống các biện pháp khuyến mãi. - Lượng định kết quả khuyến mãi. - Quản lý và phối hợp toàn bộ quá trình truyền thông marketing.2 Lý thuyết liên quan đến xúc tiến thương mại của GS.TS Nguyễn Bách Khoa GS.TS Nguyễn Bách Khoa [1] cho rằng 5 công cụ xúc tiến thương mại chủ yếu bao gồm: quảng cáo, xúc tiến bán hàng, quan hệ công chúng, marketing trực tiếp, bán hàng cá nhân.
Mô hình quản trị kế hoạch xúc tiến thương mại theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa được thể hiện qua hình 1.2 (Xem phụ lục Hình 1.2: Mô hình quản trị kế hoạch xúc tiến thương mại) Theo GS.TS Nguyễn Bách Khoa [1] thì tám nội dung cơ bản để thực hiện xúc tiến thương mại hiệu quả bao gồm: - Quyết định tập khách hàng trọng điểm và lượng hóa sự chấp nhận.