phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH NGƢỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm ngƣời thực hiện TGPL ở Việt Nam 1. Khái niệm người thực hiện TGPL ở Việt Nam Để xác định nội hàm của khái niệm và những đặc điểm cơ bản của chế định về người thực hiện TGPL, cần phải hiểu khái niệm TGPL.
Khái niệm TGPL ở Việt Nam Thuật ngữ “TGPL” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp lý”; cụm từ “trợ giúp” hiện có nhiều cách giải thích khác nhau, theo Đại Từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hoá-Thông tin, 1999 thì "trợ giúp” được hiểu là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến” [76]. Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam-Nguyễn Lân, Nxb.TP Hồ Chí Minh thì “trợ giúp” là “góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công” [41]. Với từ điển tiếng Việt của Nxb. Khoa học xã hội, 1994 thì thuật ngữ “trợ giúp” được hiểu là “giúp đỡ”.
Thuật ngữ “giúp đỡ” lại được giải thích là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì đó mà người ấy đang cần. Cái đang cần ở đây là “pháp lý” theo nghĩa rộng của từ này. Thuật ngữ "pháp lý” được hiểu là lí lẽ, lẽ phải theo pháp luật [74, tr. Ở Việt Nam, từ năm 1995, thuật ngữ "TGPL” được xuất hiện trên các tài liệu nghiên cứu, sách, báo.
Đến năm 1997, thuật ngữ này chính thức được sử dụng trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và chế độ chính sách. Hiện nay, có cả một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (trên 32 văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực TGPL đang có hiệu lực pháp luật) sử dụng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuật ngữ “TGPL” và thuật ngữ này xuất hiện ngày càng nhiều trong các sách, báo và tài liệu khoa học pháp lý. Trong quá trình nghiên cứu khái niệm TGPL của một số nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các nhà làm luật trên thế giới điều xuất phát từ cơ sở lý luận về nhân quyền và bảo đảm nhân quyền, coi TGPL như là một biện pháp bảo đảm tư pháp dành cho người không có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ pháp lý, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Có thể nói, nội dung của khái niệm “TGPL” ở mỗi nước có khác nhau, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước, nhưng đều thể hiện 3 tính chất là: kinh tế, pháp lý và nhân đạo.
Tính kinh tế, thể hiện ở chỗ việc thực hiện pháp luật về TGPL cho những đối tượng không có khả năng tài chính hoặc khó khăn tài chính để chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Điều 2 Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý năm 1995 của Singapoge cho rằng TGPL là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý, ngoài ra một số nước như: Thụy Điển, Đức, Hà Lan… cũng có quan niệm về TGPL theo hướng này. Tính pháp lý thể hiện ở chỗ, sự giúp đỡ, hỗ trợ các vấn đề liên quan đến pháp luật như tư vấn, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật quy định… như Hàn Quốc cho rằng “TGPL” được hiểu là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý của nhà nước cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến pháp luật. Tính nhân đạo thể hiện ở chỗ, tạo cơ hội cho những người nghèo nâng cao hiểu biết pháp luật, bình đẳng trong việc sử dụng, tiếp cận pháp luật, tham gia xoá đói, giảm nghèo và huy động được sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội.
Điều 1001 Đạo luật về Công ty dịch vụ pháp lý được sửa đổi năm 1977 của Mỹ quy định: TGPL là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra, pháp luật về TGPL ở một số nước như: Trung Quốc, Anh, Quebec (Canada)… cũng thể hiện tính nhân đạo sâu sắc. Thuật ngữ “TGPL” mới xuất hiện ở nước ta vào những năm cuối thế kỷ XX, trong quá trình xây dựng Luật TGPL, các nhà khoa học Việt Nam đã tham khảo các khái niệm TGPL của một số nước trên thế giới và các quan niệm về TGPL ở Việt Nam để đưa ra một số khái niệm TGPL. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý-Bộ Tư pháp khi thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ "Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay" đã đưa ra khái niệm TGPL như sau: Theo nghĩa rộng, TGPL hiểu là sự giúp đỡ của nhà nước và xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội.
Theo nghĩa hẹp, TGPL là sự giúp đỡ miễn phí của các tổ chức TGPL của nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội” [75]. Đồng tình với các khái niệm TGPL theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên, Thạc sỹ Vũ Hồng Tuyến cho rằng: Khái niệm này đề cập một cách toàn diện, mục đích và ý nghĩa của hoạt động TGPL (sự giúp đỡ miễn phí, tạo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội). Khái niệm trên cũng bao hàm một cách tương đối đầy đủ về phạm vi (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), chủ thể của hoạt động TGPL (Nhà nước và xã hội mà chủ yếu là các tổ chức TGPL) và đối tượng TGPL (người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số) [70, tr. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, các quan niệm, khái niệm nêu trên vẫn chưa khái quát toàn diện về hoạt động TGPL, nhất là khía cạnh bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Những quan niệm đó đều lấy người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số làm cơ sở xây dựng khái niệm, đồng thời mới chỉ nhìn nhận thông qua hình thức biểu hiện của đối tượng mà hoạt động TGPL hướng tới mà chưa chỉ ra các thuộc tính bản chất, đặc trưng của TGPL. Có quan niệm cho rằng: “TGPL là việc cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng trong lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính cho người thuộc diện được TGPL do Nhà nước bảo đảm” [34, tr. Khái niệm này làm rõ hình thức, lĩnh vực TGPL và trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người thuộc diện được TGPL (nhà nước trả tiền cho người thực hiện TGPL cho các đối tượng được TGPL theo quy định của Luật TGPL). Tuy nhiên, khái niệm này đã thu hẹp lĩnh vực TGPL, hình thức TGPL so với Luật TGPL năm 2006 là chưa phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội.
Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng: TGPL là việc cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có thu phí nhưng thấp hơn giá trị của dịch vụ thông qua các hình thức đại diện, bào chữa, tư vấn pháp luật và các hình giúp đỡ pháp luật khác cho người được TGPL theo quy định của pháp luật. Có thể thấy, quan niệm này đề cập đến khía cạnh thu phí nhưng thấp hơn giá trị của dịch vụ, cách tiếp cận này chưa thể hiện hết tính chất nhân đạo và pháp lý của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó hoạt động TGPL xuất phát từ chức năng xã hội của nhà nước ta. Từ những phân tích trên đây, có thể nói các nhà luật học, nhà nghiên cứu khoa học pháp lý đã xây dựng khái niệm TGPL chủ yếu căn cứ vào đối 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tượng được hưởng dịch vụ TGPL, chủ thể thực hiện TGPL, tính chất của hoạt động TGPL hoặc đề cập đến khía cạnh có thu phí. Ngày 29/6/2006, tại kỳ họp thứ 9, khoá XI, Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật TGPL, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007, tại Điều 3 đã đưa ra khái niệm về TGPL: TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [50, tr.
Có thể khẳng định, khái niệm TGPL theo Luật TGPL đã thể hiện tương đối toàn diện những thuộc tính chung, bản chất và mục đích, ý nghĩa của hoạt động TGPL ở nước ta. Một là, TGPL ở nước ta có tính chất là dịch vụ pháp lý miễn phí: khoản 1, Điều 4 của Luật TGPL năm 2006 đưa ra nguyên tắc hoạt động TGPL: "không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được TGPL” [50, tr.2], có thể nói, đây là tính chất khác biệt của hoạt động TGPL ở Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới (đa số các nước trên thế giới quy định người được TGPL phải trả một phần lệ phí cho các dịch vụ pháp lý). Tính chất miễn phí này xuất phát từ điều kiện kinh tế của Việt Nam còn khó khăn, mức độ hiểu biết pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân còn hạn chế. Nhiều công dân được xác định là người nghèo, họ chưa đủ kinh phí để trang trải cho nhu cầu cuộc sống thiết yếu hàng ngày, nên họ gặp nhiều khó khăn hoặc không thể chi trả một phần hay toàn bộ kinh phí cho dịch vụ pháp lý.