Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN, Ý NGHĨA CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì phát sinh các quan hệ giữa Tòa án với đƣơng sự và những ngƣời tham gia tố tụng khác. Các quan hệ này xuất hiện khi đơn kiện đƣợc Tòa án thụ lý để giải quyết và tồn tại cho đến khi giải quyết vụ việc dân sự kết thúc.
Tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác tạo thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đó là ngành luật TTDS. Nhà nƣớc bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể. Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì theo thủ tục do pháp luật quy định chủ thể đó đƣợc khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ (Điều 4 BLTTDS 2004). Trong phạm vi chức năng của mình Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ chế độ XHCN; bảo vệ pháp chế XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nƣớc, của tập thể, cá nhân; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Do vậy, khi có chủ thể khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý vụ án và giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp luật TTDS quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng khác ở mỗi giai đoạn tố tụng. Pháp luật TTDS xác định vai trò, trách nhiệm chủ động, tích cực của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đồng thời bảo đảm cho các đƣơng sự trong vụ án có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó tôn trọng quyền tự định đoạt của đƣơng sự đƣợc xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS. Khi các bên yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, pháp luật luôn bảo đảm cho các đƣơng sự có quyền tự quyết định các hành vi của mình phù hợp với quy định của pháp luật nhƣ: tự rút đơn khởi kiện, thay đổi nội dung khởi kiện, hòa giải, kháng cáo bản án và quyết định chƣa có hiệu lực pháp luật… Các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự trở thành chế định quan trọng của pháp luật TTDS.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (2008): "Chế định là định ra, lập ra một phép tắc có hệ thống để ban hành" [67, tr. Theo Từ điển Luật học thì: Chế định pháp luật đƣợc hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội trong phạm vi một ngành luật. Dƣới góc độ pháp luật, hòa giải đƣợc coi là chế định pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự [65, tr. Theo giáo trình Lý luận Nhà nƣớc và pháp luật của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì: "Chế định pháp luật là một tập hợp đƣợc cấu trúc từ nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau thuộc cùng một loại" [55].
Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ học trực thuộc Viện Khoa học xã hội biên soạn (1992), "Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ổn thỏa" [53, tr. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hòa giải là một biện pháp để giải quyết các tranh chấp, theo đó, với sự giúp đỡ của bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp cho phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Hòa giải trong TTDS là hoạt động do Tòa án tiến hành giúp các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Để cho hoạt động hòa giải của Tòa án đƣợc khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự thì Tòa án phải tuân theo các quy định về hòa giải trong TTDS Việt Nam.
Từ những phân tích trên, chế định hòa giải là một trong những chế định của pháp luật TTDS, bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự. Cụ thể hơn chế định hòa giải là tổng hợp các quy định pháp luật tố tụng về nguyên tắc, phạm vi,thành phần, nội dung, trình tự thủ tục do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Đặc điểm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, sự vật, hiện tƣợng không chỉ là sự biểu hiện của những mặt, những mối quan hệ bên ngoài, mà còn hàm chứa bản chất của sự vật, hiện tƣợng đó. Hay nói cách khác, bản chất là những mặt, những mối liên hệ bên trong, quy định sự vận động của sự vật, hiện tƣợng.
Theo đó, chế định hòa giải trong pháp luật TTDS không chỉ đơn thuần là tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, mà còn phản ánh bản chất của các quan hệ xã hội đó. Bản chất của chế định này thể hiện ở những điểm sau đây.1 Chế định hòa giải điều chỉnh hoạt động hòa giải do Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Chế định hòa giải với vị trí cấu thành của hệ thống pháp luật TTDS quy định về nguyên tắc, phạm vi, nội dung, trình tự, thủ tục hòa giải của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự. Chế định hòa giải quy định về quyền và nghĩa 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ cho các chủ thể khi tham gia trong quá trình hòa giải. Khi các tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu hòa giải không thành, Tòa án phải củng cố, hoàn hiện hồ sơ vụ việc để đƣa ra xét xử tại phiên tòa. Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn rất quan trọng, nó làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các quyết định của Tòa án đƣợc khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoạt động hòa giải các vụ việc dân sự có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hòa giải là một thủ tục bắt buộc đối với hầu hết vụ việc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Hòa giải đã đƣợc pháp luật TTDS Việt Nam xác định là một nguyên tắc, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để đƣơng sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, thể hiện trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc củng cố tình tƣơng thân, tƣơng ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng.
Các quy định về hòa giải cũng nhƣ các hoạt động tố tụng khác trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự luôn luôn đƣợc hoàn thiện đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội. Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một giai đoạn bắt buộc đối với vụ án mà theo quy định phải tiến hành hòa giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chỉ đƣa ra xử tại phiên tòa sơ thẩm khi đã hòa giải không thành. Hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc tại phiên tòa sơ thẩm và các giai đoạn tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một nguyên tắc, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự.
Điều 10 BLTTDS quy định: "Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này" [31]. Theo Điều 186 BLTTDS quy định: "Khi các đƣơng sự thỏa thuận đƣợc với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này đƣợc gửi ngay cho các đƣơng sự tham gia hòa giải" [31]. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, hòa giải là một thủ tục bắt buộc trƣớc khi xét xử sơ thẩm đối với những vụ việc dân sự mà pháp luật quy định phải hòa giải; nếu hòa giải thành sau thời gian bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đƣơng sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán đƣợc Chánh án Tòa án phân công ra QĐCNTT.
Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đƣa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Hòa giải là thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo, nếu thấy có khả năng hòa giải thành thì Tòa án cũng tiến hành hòa giải. Quy định này là cơ sở để các đƣơng sự có thể hòa giải với sự giúp đỡ của Tòa án trong bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án. Thứ hai, Tòa án là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải giữa các đương sự.
Trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, Tòa án đƣợc pháp luật quy định có vai trò trung gian tổ chức hòa giải giúp đỡ các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án.