Chương 1: Trình bày cơ sở lý luâ ̣n về lĩnh vực bảo trì , các lý thuyết làm cơ sở phân tić h các yế u tố tác đô ̣ng đế n hoa ̣t đô ̣ng bảo trì. - Chương 2: Tìm hiểu thực tra ̣ng hoạt động bảo trì tại cơ sở , phân tić h các yế u tố tác động từ bên trong và môi trường bên ngoài lên hoạt động bảo trì tại đơn vị. - Chương 3: Đề xuấ t c ác giải pháp cần thự c hiê ̣n nhằ m hoàn thiện hoạt động bảo trì. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -1- CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO TRÌ 1.1 Tổ ng quan về bảo tri ̀ 1.1 Định nghĩa bảo trì Trong thời đại hiện nay, máy móc và thiết bị đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết mọi lĩnh vực: Sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,… Vì vậy bảo trì các loại máy móc thiết bị cũng ngày càng đƣơ ̣c quan tâm hơn.
Bảo trì là một thuật ngữ quen thuộc, tuy nhiên để hiểu rõ vai trò, chức năng và các hoạt động liên quan đến bảo trì lại không dễ dàng. Tùy theo quan điểm của mỗi tổ chức, mỗi cơ quan mà thuật ngữ bảo trì đƣợc định nghĩa khác nhau, nhƣng về cơ bản có nhiều điểm tƣơng đồng. Sau đây là định nghĩa tiêu biểu: Định nghĩa của BS 3811:1984 (Anh) : Bảo trì là tập hợp tất cả các hành động kỹ thuật và quản trị, nhằm giữ cho thiết bị luôn ở, (hoặc phục hồi nó về) một tình trạng, mà trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu. Chức năng yêu cầu này có thể định nghĩa như là một tình trạng xác định nào đó.
Trong thƣ̣c tế , bảo trì gồm các phần việc sau : - Các hành động quản trị : Quản lý cập nhâ ̣t tài liê ̣u , hồ sơ kỹ thuâ ̣t , lịch sử của thiế t bi;̣ Quản lý lƣu trữ thông tin phụ tùng, quản lý hàng tồn kho; Mua sắ m vâ ̣t tƣ phu ̣ tùng; Quản trị các nguồn lực cho bảo trì; Ghi nhận, tổng hợp phân tích chi phí bảo trì; Lập kế hoạch bảo trì hợp lý, kiểm soát, điều độ công việc bảo trì đúng tiến độ. - Các hành động kỹ thuật : Kỹ năng, thao tác tháo , lắ p máy theo trinh tƣ̣ quy đinh; ̣ Kỹ năng thực hiện các kỹ thuật bảo trì ; Theo dõi và phân tích hiện trạng, hiê ̣u năng của thiết bị… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Lịch sử bảo trì Bảo trì đã xuất hiện kể từ khi con ngƣời biết sử dụng các loại dụng cụ, đặc biệt là từ khi bánh xe đƣợc phát minh. Nhƣng chỉ hơn mƣời lăm năm qua bảo trì mới đƣợc coi trọng đúng mức khi có sự gia tăng khổng lồ về số lƣợng và chủng loại của các tài sản cố định nhƣ máy móc, thiết bị, nhà xƣởng trong sản xuất công nghiệp. Ở bất kỳ nơi nào trên thế giới ngƣời ta đã tính trung bình rằng khoảng từ 4 đến 40 lần chi phí mua sắm sản phẩm và thiết bị để dùng để duy trì chúng vận hành đạt yêu cầu bằng các hoạt động bảo trì phòng ngừa và phục hồi trong suốt tuổi đời của chúng.
Bảo trì đã trãi qua ba thế hệ sau: Thế hệ thứ nhất: (Bắt đầu từ xa xƣa mãi đến đầu chiến tranh thế giới thứ II) Trong giai đoạn này công nghiệp chƣa đƣợc phát triển. Việc chế tạo và sản xuất đƣợc thực hiện bằng các máy móc còn đơn giản, thời gian ngừng máy ít ảnh hƣởng đến sản xuất, do đó công việc bảo trì cũng rất đơn giản. Bảo trì không ảnh hƣởng lớn về chất lƣợng và năng suất. Vì vậy ý thức ngăn ngừa các thiết bị hƣ hỏng chƣa đƣợc phổ biến trong đội ngũ quản lý.
Do đó không cần thiết phải có các phƣơng pháp bảo trì hợp lý cho các máy móc. Bảo trì lúc bấy giờ là sửa chữa các máy móc và thiết bị khi có hƣ hỏng xảy ra. Thế hệ thứ hai: Mọi thứ đã thay đổi trong suốt thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II. Những áp lực trong thời gian chiến tranh đã làm tăng nhu cầu của các loại hàng hóa trong khi nguồn nhân lực cung cấp cho công nghiệp lại sút giảm đáng kể.
Do đó cơ khí hóa đã đƣợc phát triển mạnh để bù đắp lại nguồn nhân lực bị thiếu hụt. Vào những năm 1950, máy móc các loại đã đƣợc đƣa vào sản xuất nhiều hơn và phức tạp hơn. Công nghiệp bắt đầu phụ thuộc vào chúng. Do sự phụ thuộc ngày càng tăng, thời gian ngừng máy ngày càng đƣợc quan tâm nhiều hơn.
Đôi khi có một câu hỏi đƣợc nêu ra là "con ngƣời kiểm soát máy móc hay máy móc điều khiển con ngƣời". Nếu công tác bảo trì đƣợc thực hiện tốt trong nhà máy thì con ngƣời sẽ kiểm soát đƣợc máy móc, ngƣợc lại máy móc hƣ hỏng sẽ gây khó khăn cho con ngƣời. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -3- Vì vậy, đã có ý kiến cho rằng những hƣ hỏng của thiết bị có thể và nên đƣợc phòng ngừa, để tránh làm mất thời gian khi có những hƣ hỏng hay tình huống khẩn cấp xảy ra. Từ đó đã bắt đầu xuất hiện khái niệm bảo trì phòng ngừa mà mục tiêu chủ yếu là giữ cho thiết bị luôn hoạt động ở trạng thái ổn định chứ không phải sửa chữa khi có hƣ hỏng.
Trong những năm 1960 giải pháp này chủ yếu là đại tu lại thiết bị vào những khoảng thời gian nhất định. Chi phí bảo trì cũng đã bắt đầu gia tăng đáng kể so với chi phí vận hành khác. Điều này dẫn đến việc phát triển những hệ thống kiểm soát và lập kế hoạch bảo trì. Cuối cùng tổng vốn đầu tƣ cho tài sản cố định đã gia tăng đáng kể nên ngƣời ta bắt đầu tìm kiếm những giải pháp để có thể tăng tối đa tuổi thọ của các tài sản này.
Thế hệ thứ ba: Từ giữa những năm 1970, công nghiệp thế giới đã có những thay đổi lớn lao. Những thay đổi này đòi hỏi và mong đợi ở bảo trì ngày càng nhiều hơn.1 : Những mong đợi đối với bảo trì đang ngày càng tăng. “Nguồ n : Quản lý bảo trì công nghiê ̣p, trang 10” [7] 1.3 Vai trò của bảo tri ̀ đố i với hoa ̣t đô ̣ng doanh nghiêp̣ Bảo trì đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất ngày nay. Việc nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công tác bảo trì sẽ giúp các doanh nghiệp giảm chi phí, tăng khả năng sẵn sàng của thiết bị, từ đó sẽ nâng cao đƣợc lợi nhuận.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- Ngày nay bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, có thể so sánh nhƣ một đội cứu hỏa. Đám cháy một khi đã xảy ra phải đƣợc dập tắt càng nhanh càng tốt để tránh những thiệt hại lớn. Tuy nhiên, dập tắt lửa không phải là nhiệm vụ chính của đội cứu hỏa mà công việc chính của họ là phòng ngừa không cho đám cháy xảy ra. Cho nên vai trò chính của bảo trì là phòng ngừa để cho máy móc không bị hƣ hỏng.
Vai trò thƣ́ hai của bảo trì là cực đại hóa năng suất, năng suấ t cao là nhờ đảm bảo hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tƣơng ứng với tuổi thọ của máy dài hơn; nhờ chỉ số khả năng sẵn sàng của máy cao nhất và thời gian ngừng máy để bảo trì nhỏ nhất; nhờ cải tiến liên tục quá trình sản xuất. Vai trò thƣ́ ba của bảo trì là tối ƣu hóa hiệu suất của máy, khi đó máy móc vận hành có hiệu quả và ổn định hơn, chi phí vận hành ít hơn, đồng thời làm ra sản phẩm đạt chất lƣợng hơn, tạo ra môi trƣờng làm việc an toàn hơn. Hiện nay, bảo trì ngày càng trở nên quan trọng. Ở những nƣớc đang phát triển, có nhiều máy móc cũ đang hoạt động.
Vấn đề phụ tùng là yếu tố cần quan tâm, bởi vì khó tìm đƣợc phụ tùng thay thế cho thiết bị, nếu có tìm thấy thƣờng giá cũng rất cao và phải trả bằng ngoại tệ. Nếu công tác bảo trì tốt, hậu quả của các hƣ hỏng đã đƣợc đề phòng thì vấn đề này phần nào đã đƣợc giải quyết.4 Phân loa ̣i bảo tri ̀ Các loại chiến lƣợc, giải pháp, kỹ thuật, phƣơng pháp, thiết bị bảo trì đang phổ biến hiện nay đƣợc trình bày ở Hình 1.1 Bảo trì không kế hoạch Chiến lƣợc bảo trì này đƣợc xem nhƣ là “vận hành cho đến khi hƣ hỏng”. Nghĩa là không hề có bất kỳ một kế hoạch hay hoạt động bảo trì nào trong khi thiết bị đang hoạt động cho đến khi hƣ hỏng. Bảo trì không kế hoạch đƣợc hiểu là công tác bảo trì đƣợc thực hiện không có kế hoạch hoặc không có thông tin trong lúc thiết bị đang hoạt động cho đến khi hƣ hỏng.
Nếu có một hƣ hỏng nào đó xảy ra thì thiết bị đó sẽ đƣợc sửa chữa hoặc thay thế. Hai loại giải pháp phổ biến trong chiến lƣợc bảo trì này là: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- Bảo trì phục hồi Bảo trì phục hồi không kế hoạch là tất cả các hoạt động bảo trì đƣợc thực hiện sau khi xảy ra đột xuất một hƣ hỏng nào đó để phục hồi thiết bị về tình trạng hoạt động bình thƣờng nhằm thực hiện các chức năng yêu cầu. Bảo trì khẩn cấp Bảo trì khẩn cấp là bảo trì cần đƣợc thực hiện ngay sau khi có hƣ hỏng xảy ra để tránh những hƣ hỏng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng tiếp theo. Trong thực tế do thiếu tính linh hoạt và không thể kiểm soát chi phí đƣợc nên bảo trì khẩn cấp là phƣơng án bất đắc dĩ và ít đƣợc chấp nhận.
Thay vào đó có thể sử dụng các giải pháp hiệu quả và linh hoạt hơn. Bảo trì phục hồi không kế hoạch thƣờng chi phí cao và các lần ngừng sản xuất không biết trƣớc đƣợc, do đó sẽ làm cho chi phí bảo trì trực tiếp và chi phí bảo trì gián tiếp cao. Vì vậy bảo trì không kế hoạch chỉ thích hợp trong những trƣờng hợp ngừng máy đột xuất chỉ gây ra thiệt hại tối thiểu. Đối với những thiết bị quan trọng trong các dây chuyền sản xuất, những lần ngừng máy đột xuất gây ra tổn thất lớn cho nhà máy, đặc biệt là tổn thất sản lƣợng và doanh thu.
Do đó, giải pháp bảo trì này cần phải đƣợc giảm đến mức tối thiểu trong bất kỳ một tổ chức bảo trì nào.2 Bảo trì có kế hoạch Bảo trì có kế hoạch là bảo trì đƣợc tổ chức và thực hiện theo một chƣơng trình đã đƣợc hoạch định và kiểm soát.