Luận Văn Thạc Sĩ Về Hoạch Định Đường Cơ Sở Trong Luật Quốc Tế Hiện Đại Và Pháp Luật Việt Nam

Khám phá luận văn thạc sĩ về hoạch định đường cơ sở trong luật quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam. Tìm hiểu sâu sắc và chi tiết.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

135
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hoạch Định Đường Cơ Sở Trong Luật Quốc Tế

Hoạch định đường cơ sở là một khái niệm quan trọng trong luật quốc tếpháp luật Việt Nam. Đường cơ sở được xác định là điểm khởi đầu để tính toán các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia. Theo Công ước Luật biển 1982, đường cơ sở không chỉ là một khái niệm pháp lý mà còn là một công cụ để bảo vệ quyền lợi của các quốc gia ven biển. Việc xác định đường cơ sở có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên biển.

1.1. Khái Niệm Đường Cơ Sở Trong Luật Quốc Tế

Đường cơ sở là đường được vạch ra để xác định chiều rộng lãnh hải của một quốc gia. Theo Công ước Luật biển 1982, đường cơ sở có thể là đường thông thường hoặc đường thẳng, tùy thuộc vào hình dạng của bờ biển.

1.2. Vai Trò Của Đường Cơ Sở Trong Phân Định Biển

Đường cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các vùng biển như lãnh hải, vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế. Nó là cơ sở pháp lý để các quốc gia thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Hoạch Định Đường Cơ Sở

Việc hoạch định đường cơ sở gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh các quốc gia có vùng biển chồng lấn. Các vấn đề như sự khác biệt trong cách xác định đường cơ sở giữa các quốc gia và sự cạnh tranh về quyền lợi trên biển là những thách thức lớn. Hơn nữa, việc áp dụng các quy định của Công ước Luật biển 1982 cũng gặp khó khăn do sự khác biệt trong thực tiễn và pháp luật của từng quốc gia.

2.1. Sự Khác Biệt Trong Cách Xác Định Đường Cơ Sở

Mỗi quốc gia có thể có cách xác định đường cơ sở khác nhau, dẫn đến sự không đồng nhất trong việc áp dụng luật quốc tế. Điều này có thể gây ra tranh chấp giữa các quốc gia ven biển.

2.2. Cạnh Tranh Về Quyền Lợi Trên Biển

Sự cạnh tranh về tài nguyên biển và quyền lợi giữa các quốc gia có thể dẫn đến xung đột. Việc hoạch định đường cơ sở không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề chính trị và kinh tế.

III. Phương Pháp Hoạch Định Đường Cơ Sở Theo Luật Quốc Tế

Có hai phương pháp chính để hoạch định đường cơ sở: đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp với từng loại hình bờ biển. Việc áp dụng đúng phương pháp sẽ giúp các quốc gia xác định chính xác quyền lợi của mình trên biển.

3.1. Đường Cơ Sở Thông Thường

Đường cơ sở thông thường được xác định dựa trên ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển. Phương pháp này thường áp dụng cho các bờ biển bằng phẳng và không lồi lõm.

3.2. Đường Cơ Sở Thẳng

Đường cơ sở thẳng được sử dụng cho các bờ biển lồi lõm hoặc có nhiều đảo. Phương pháp này giúp đơn giản hóa việc xác định lãnh hải và bảo vệ quyền lợi của quốc gia ven biển.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Đường Cơ Sở Tại Việt Nam

Việt Nam đã áp dụng các quy định về đường cơ sở theo Công ước Luật biển 1982 để xác định lãnh hải và các vùng biển khác. Việc hoạch định đường cơ sở không chỉ giúp bảo vệ chủ quyền mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tài nguyên biển. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện các quy định này.

4.1. Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Về Đường Cơ Sở

Pháp luật Việt Nam quy định rõ về việc xác định đường cơ sở, tuy nhiên, việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của địa hình và các yếu tố tự nhiên.

4.2. Kinh Nghiệm Quốc Tế Trong Hoạch Định Đường Cơ Sở

Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc hoạch định đường cơ sở, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý biển.

V. Kết Luận Về Hoạch Định Đường Cơ Sở Trong Luật Quốc Tế

Hoạch định đường cơ sở là một vấn đề quan trọng trong luật quốc tếpháp luật Việt Nam. Việc xác định đường cơ sở không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia mà còn có tác động lớn đến an ninh và phát triển kinh tế. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện quy định về đường cơ sở, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển.

5.1. Tương Lai Của Hoạch Định Đường Cơ Sở

Trong tương lai, việc hoạch định đường cơ sở sẽ tiếp tục là một vấn đề nóng bỏng trong luật quốc tế. Các quốc gia cần hợp tác để giải quyết các tranh chấp và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình.

5.2. Đề Xuất Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Đường Cơ Sở

Cần có những đề xuất cụ thể để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đường cơ sở tại Việt Nam, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ chủ quyền biển.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ hoạch định đường cơ sở trong luật quốc tế hiện đại và đường cơ sở theo quy định của pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐƢỜNG CƠ SỞ 1. Khái niệm và phân loại đƣờng cơ sở 1. Đường cơ sở theo quy định của Công ước Luật biển 1982 Công ước Luật biển 1982 không có bất cứ điều khoản nào quy định cụ thể về khái niệm đường cơ sở. Tuy nhiên, do đường cơ sở là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để quốc gia ven biển hoạch định và tuyên bố các vùng biển thuộc chủ quyền (nội thủy và lãnh hải) và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia (vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) nên trong Công ước luật biển 1982 có nhiều điều luật quy định các nội dung liên quan đến đường cơ sở.

Điều 3 của Công ước luật biển 1982 đã quy định việc xác định chiều rộng lãnh hải “Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước”. Công ước luật biển 1982 quy định cách thức xác định đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng như sau: theo quy định tại Điều 5 của Công ước luật biển 1982: Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được các quốc gia ven biển chính thức công nhận và cũng theo quy định tại Điều 7 của Công ước: Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. 5 Như vậy, mặc dù Công ước luật biển 1982 không đưa khái niệm cụ thể nào về đường cơ sở nhưng qua nghiên cứu các điều luật có liên quan trong Công ước, chúng ta có thể rút ra khái niệm pháp lý về đường cơ sở như sau: đường cơ sở của quốc gia trên biển là cột mốc pháp lý được vạch dựa vào ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất dọc theo chiều hướng chung của bờ biển hoặc là đường thẳng gãy khúc nối liền các mũi, các đỉnh, các đảo ven bờ để các quốc gia xác định chiều rộng các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia. Đường cơ sở chính là ranh giới phía trong của lãnh hải và ranh giới phía ngoài của nội thủy.

Đường cơ sở không chỉ được xác định ở các quốc gia ven biển mà đường cơ sở còn được xác định ở các quốc gia quần đảo. Quy định về đường cơ sở ở các quốc gia quần đảo vừa kế thừa cách xác định đường cơ sở truyền thống và vừa có một số đặc thù riêng. Muốn xác định được vùng nước quần đảo cần phải vạch đường cơ sở quần đảo. Đường cơ sở quần đảo có thể do quốc gia đơn phương vạch ra nhưng phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định cụ thể tại Điều 47 của Công ước luật biển 1982: 1.

Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1. Chiều dài của các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể tối đa 3% của tổng số các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng không quá 125 hải lý. Tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo. Các đường cơ sở không thể kéo đến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm lúc nổi, trừ trường hợp tại đó có xây đặt các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt biển hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hải.

Một quốc gia quần đảo không được áp dụng phương pháp kẻ các đường cơ sở khiến cho các lãnh hải của một quốc gia khác bị tách rời với biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế. Nếu một phần của vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo nằm giữa hai mảnh lãnh thổ của một quốc gia kế cận, thì các thuyền và mọi lợi ích chính đáng mà quốc gia kế cận này vẫn được hưởng theo truyền thống ở trong các vùng nước nói trên, cũng như tất cả các quyền nảy sinh từ các điều ước được ký kết giữa hai quốc gia, vẫn tồn tại và vẫn được tôn trọng. Để tính toán tỷ lệ diện tích các vùng nước so với diện tích phần đất đã nêu ở khoản 1, các vùng nước trên trong các bãi đá ngầm bao quanh các đảo và vành đai san hô, cũng như mọi phần của một nền đại dương có sườn dốc đất đứng, hoàn toàn hay gần như hoàn toàn do một chuỗi đảo đá vôi hay một chuỗi các mỏm đá lúc chìm lúc nổi bao quanh, có thể được coi như là một bộ phận của đất. Các đường cơ sở được vạch ra theo đúng điều này phải được ghi trên hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí.

Bản kê tọa độ địa lý của các điểm, có ghi rõ hệ thống trắc địa được sử dụng có thể thay thế cho các bản đồ này. Quốc gia quần đảo công bố theo đúng thủ tục các bản đồ hoặc bảng liệt kê tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản để lưu chiểu. 7 Vùng nước phía trong đường cơ sở quần đảo được gọi là vùng nước quần đảo thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia quần đảo. Quốc gia quần đảo có chủ quyền trong vùng nước quần đảo.

Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời phía trên, đáy và dưới đáy vùng nước quần đảo [11, tr. Phân loại đường cơ sở theo Công ước Luật biển 1982 Việc ấn định chiều rộng lãnh hải có xu hướng dịch chuyển biên giới quốc gia trên biển ra xa về hướng biển. Nó phụ thuộc rất nhiều vào việc vạch đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, đường ranh giới trong của lãnh hải. Theo thực tiễn và pháp luật quốc tế có hai phương pháp chính để vạch đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải.

Đó là: đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng. Phƣơng pháp đƣờng cơ sở thông thƣờng: hay được áp dụng đối với những vùng có bờ biển bằng phẳng, không lồi lõm, khúc khuỷu. Đường cơ sở thông thường được nói đến đầu tiên trong Hiệp ước Pháp - Anh năm 1839 về đánh cá: “ngấn nước thuỷ triều thấp nhất tạo thành đường cơ sở thông thường dùng để tính bề rộng lãnh hải”. Ngấn nước thuỷ triều thấp nhất là “đường cắt của bề mặt nước thuỷ triều khi xuống thấp nhất với bờ biển.

Đường này chạy dọc theo bờ biển, hoặc phần đất dốc của bờ, tại đó biển lùi xuống mức triều thấp nhất”. tại Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp có quy định cụ thể: “Đó là ngấn nước triều thấp nhất lượn theo bờ biển như là đã được chỉ trên hải đồ tỷ lệ lớn mà quốc gia ven biển chính thức công nhận”. Trong thực tế, hiểu “ngấn nước triều thấp nhất” không phải đã thống nhất giữa các quốc gia, có quốc gia thì cho đây là mức thấp nhất trung bình trong một thời kỳ nào đó, có quốc gia thì hiểu đấy là mức thấp nhất tuyệt đối, có quốc gia lại nói đó là mức thấp nhất lịch sử. Đây là vấn đề chủ quyền của quốc gia ven bờ, các quốc gia khác rất khó có điều kiện kiểm tra hoặc đối chiếu, cho nên cách thiết thực nhất vẫn là công bố trên hải đồ.

Phương pháp đường cơ sở 8 thông thường liên quan nhiều tới sự thay đổi mực nước biển, tới mực 0 thuỷ triều trên các hải đồ. Mực 0 này rất khác nhau giữa các quốc gia và ngay cả giữa các vùng của cùng một bờ biển quốc gia. Theo quy định tại Điều 5 của Công ước Luật biển 1982 “trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được các quốc gia ven biển chính thức công nhận”. Trong trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh thì đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cùng của các mỏm đá như đã được thể hiện trên hải đồ được quốc gia ven biển chính thức công nhận (Điều 6 Công ước Luật biển 1982).

Như vậy, có thể lấy ngấn nước triều thấp nhất (trong một ngày đêm, một tháng hoặc một năm) dọc theo bờ biển, đảo, quần đảo để xác định đường cơ sở. Tuy nhiên, thủy triều và biên độ thủy triều thấp nhất ở mỗi nơi không giống nhau, hơn nữa từng nước tự xác định mực nước chuẩn (số 0 hải đồ) của mình nên giới hạn này không thể thống nhất với mọi nước và đây là vấn đề thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển [11, tr. Cả Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp và Công ước luật biển 1982 đều mô tả ngấn nước triều thấp nhất là đường cơ sở thông thường và nó có ưu điểm phản ánh đúng đường bờ biển của các quốc gia và hạn chế bớt sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia. Công ước Luật biển 1982 cũng quy định đối với các đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, phương pháp đường cơ sở thông thường cũng được áp dụng (Điều 6).

Tuy nhiên, phương pháp này rất khó áp dụng đối với các bờ biển khúc khủy, lồi lõm [27, tr. Phƣơng pháp đƣờng cơ sở thẳng: được áp dụng ở những nơi địa hình bờ biển lồi lõm, khúc khuỷu, quanh co, có nhiều đảo gần bờ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ