Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LUGC CAP ĐƠN VỊ KINH DOANH Chuong 2: GIGI THIEU TRUNG TAM KY THUAT TIEU CHUAN DO LUGONG CHAT LUOQNG 2 VA PHAN TICH THUC TRANG CHUNG NHAN SAN PHAM HOP CHUAN HOP QUY Chuong 3: HOACH DINH CHIEN LUGC “CHUNG NHAN SAN PHAM HOP CHUAN HOP QUY” CUA TRUNG TAM KY THUAT TIEU CHUAN DO LUONG CHAT LUONG 2 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện đề tài, tác giả tiến hành xác định, lựa chọn, nghiên cứu và tổng hợp kiến thức từ các tài liệu cần thiết về quan điểm, cách tiếp cận về chiến lược và chiến lược kinh doanh.TS Lê Thế Giớ, TS. Nguyễn Thanh Liêm, ThS. Trần Hữu Hải, 2011, trong cuốn “Quản trị iến lược” đưa ra cách tiếp cận chiến lược là nhằm giành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
“Chiến lược là các ý tưởng, các kế hoạch và sự hỗ trợ đề một doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh thành công trước các đối thủ của nó”. “Lợi thế cạnh tranh là những gì cho phép doanh nghiệp có được sự vượt trội so với đối thủ của nó. Lợi thế này tạo khả năng đề doanh nghiệp duy trì sự thành công một cách lâu dài”. Theo cách tiếp cận này, chiến lược được hình thành theo mô hình quan trị chung nhất, đó là: (1) Lựa chọn sứ mệnh và các mục tiêu chủ yếu của công ty; (2) Phân tích môi trường bên ngoài để nhận dạng các cơ hội và đe dọa; (3) Phân tích môi trường bên trong để nhận dạng các điểm mạnh và điềm yếu của tô chức; (4) Lựa chọn các chiến lược trên cơ sở tìm kiếm các nguồn lực, khả năng và năng lực cốt lõi và phát triển nó để hóa giải các nguy cơ, tận dụng các cơ hội từ môi trường bên ngoài; (5) Thực thi chiến lược.
- Nghiên cứu của tác giả Robert M.Grant trong bài “Nguồn lực - dựa trên lý thuyết về lợi thế cạnh tranh: Cách thức thực hiện chiến lược”, chiến lược được hiểu là “sự phù hợp mà tổ chức tạo ra giữa các ngun lực, kỹ năng bên trong và những cơ hội, thách thức từ môi trường bên ngoài”. Nghiên cứu tiếp cận chiến lược trên quan điểm nguồn lực và vai trò của nguồn lực tô chức, coi đó như là nền tảng cho chiến lược công ty. + Nguồn lực và khả năng bên trong là nền tảng của chiến lược: giúp. cho công ty có những định hướng cơ bản về chiến lược và là tài sản quan trọng tạo giá trị cho công ty.
+ Nguồn lực và khả năng bên trong được xem như nguồn có tính định hướng: khi nhu cầu khách hàng, môi trường thay đổi liên tục không thể dự đoán được thì nguồn lực và khả năng của công ty có thể là nền tảng ổn định hơn rất nhiều để nhận dạng doanh nghiệp. + Nguồn lực được xem là nên tảng lợi nhuận của công ty: tính hấp dẫn của ngành không han là nền tảng chủ yếu của khả năng sinh lợi vượt trội do sự cạnh tranh quốc tế, sự thay đổi công nghệ và sự đa dạng của công ty. Việc nhận ra lợi thế cạnh tranh (tức là xem xét khả năng của tô chức), chứ không phải môi trường bên ngoài, là nguồn chủ yếu tạo khác biệt lợi nhuận giữa các công ty đã khiến doanh nghiệp tập trung vào nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh từ bên trong - đó chính là nguồn lực và khả năng của công ty. + Nghiên cứu đưa ra mô hình với năm quá trình thực hiện chiến lược theo quan điểm tiếp cận dựa vào nguồn lực bao gồm: (1) Nhận biết và phân loại các nguồn lực của công ty nhằm xác định các nguồn lực có giá trị (có ý nghĩa chiến lược); (2) Nhận biết các khả năng/tiềm năng của công ty vượt trội hơn các đối thủ và các nguồn lực cần thiết cho khả năng đó để xác định các khả năng thực thụ; (3) Đánh giá các tiềm năng chung của các nguồn lực và các khả năng để xác định lợi thế cạnh tranh; (4) Lựa chọn một chiến lược mà có thể khai thác tốt nhất các nguồn lực và khả năng của công ty liên quan đến các cơ hội từ bên ngoài và (5) Nhận diện độ lệch về các nguồn lực và phát triển nền tảng nguồn lực.
Chu trình tiếp tục được xem xét để cập nhật vào. ~ Nghiên cứu của các tác giả David J.Collis và Cynthia A.Montgomery trong bài “Cạnh tranh dựa vào nguồn lực: Chiến lược trong thập niên 90” cũng đưa ra cách tiếp cận chiến lược dựa trên nguồn lực, trong đó nhắn mạnh vai trò của nguồn lực vô hình. Theo quan điểm này, lợi thế cạnh tranh có được, cuối cùng có thể quy cho việc sở hữu những nguồn lực giá trị khiến công ty có thể duy trì hoạt động tốt hơn hay rẻ hơn so với đối thủ cạnh tranh. Điều này đúng với từng đơn vị kinh doanh và đối với toàn công ty, nơi mà những nguồn lực có giá trị ẩn chứa và phát huy trong từng chức năng cụ thể.
Quan điểm dựa vào nguồn lực kết nối rất chặt chẽ giữa các khả năng bên trong của tổ chức với môi trường bên ngoài và hình thành phối thức chiến lược kinh doanh hữu hiệu. Công ty được xem như tập hợp khác nhau giữa tài sản vô hình, tài sản hữu hình và các khả năng. Trong đó, tài sản vô hình được xem là pl quan trọng của tô chức. Nó được đánh giá qua các tiêu chí như: tính khó bắt chước, tính lâu bÈn, tính phù hợp, khả năng bị thay thế và tính vượt trội trong cạnh tranh.
Các tác giả đưa ra mô hình xác định lợi thế cạnh tranh dựa trên nguồn lực qua hai yếu tố chính là (1) các khả năng và (2) các yếu tố vô hình. Cần đặc biệt quan tâm đến việc đầu tư để duy trì và xây dựng các nguồn lực giá trị và việc sử dụng chúng một cách hợp lý. - Nghiên cứu của tác giả C.Prahalad và Gary Hamel trong bài “Năng lực cốt lõi của công ty” phân tích và nhắn mạnh vai trò của năng lực cốt lõi của công ty và việc ứng dụng, triển khai năng lực đó trong đơn vị kinh doanh. Nang lực cốt lõi là kiến thức tập thê trong tô chức, đặc biệt là cách thức phối hợp những kỹ năng sản xuất đa dạng và tích hợp nhiều dòng công nghệ phức tạp; Nó còn là sự truyền thông, là các cam kết sâu sắc tới công việc vượt qua các ranh giới của tô chức; Nó liên quan đến nhiều cấp con người và tắt cả các chức năng trong tổ chức; Nó không giảm đi giá trị khi được áp dụng và chia sẻ mà ngược lại được phát triển, gia tăng giá trị.
Năng lực cốt lõi được đánh giá trên ba tiêu chí: (1) Một năng lực ct lõi cung cấp khả năng tiềm tàng tiếp cận đến một phạm vi rộng các thị trường khác nhau; (2) Năng lực cốt lõi đóng góp đáng kể. lợi ích có thể nhận thức được của khách hàng và (3) Năng lực cót lõi rất khó cho đối thủ bắt chước. Sản phẩm cốt lõi (hay các SBU) được dùng để chỉ sự liên kết giữa các năng lực cốt lõi và sản phẩm cuối cùng - nó là hiện thân về mặt vật chất của một hay nhiều năng lực cốt lõi. Sản phẩm cốt lõi góp phần vào năng lực cạnh tranh của phổ rộng các sản phẩm cuối cùng.
“Trong ngắn hạn, khả năng cạnh tranh của công ty phát sinh từ đặc tính giá cả/ hiệu suất của những sản phẩm nhưng trong dài hạn, khả năng cạnh tranh bắt nguồn từ khả năng tạo dựng các năng lực cốt lõi với chỉ phí thấp hơn và nhanh hơn so với đối thủ cạnh tranh, nhờ đó tạo ra những sản phẩm khác biệt không thể dự kiến trước. Nghiên cứu không đưa ra mô hình cho việc xây dựng chiến lược dựa trên năng lực cốt lõi nhưng cho rằng tổ chức cần thiết lập một cầu trúc chiến lược dựa trên việc xác định các năng lực cốt lõi và cấu trúc của công ty được tô chức theo các sản phẩm chủ đạo trên nền tảng những năng lực cốt lõi thực thụ, đồng thời cần ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các năng lực cốt lõi đó. * Tóm lại: các lý thuyết về xây dựng/hoạch định chiến lược đều nhằm đến việc tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tuy nl , có một số cách tiếp cận khác nhau để inh thanh cl lược: nó có thể từ việc xem xét sứ mệnh và các mục tiêu đến việc phân tích môi trường bên ngoài và bên trong; có thể từ việc xác định năng lực cốt lõi hay lợi thế cạnh tranh của tỏ chức.
Trong đó, đặc biệt là cách tiếp cận từ việc phân tích các nguồn lực có giá trị và khả năng thực thụ của công ty để xác định lợi thế cạnh tranh và hình thành chiến lược trong mối quan hệ giữa: nguồn lực - khả năng - lợi thế cạnh tranh - chiến lược. Mô hình nghiên cứu của Robert M.Grant rất thuyết phục và thích hợp trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHIEN LUQC VA CHIEN LUQC CAP DON VI KINH DOANH 1. CHIEN LUQC VA QUAN TRI CHIEN LUQC 1.
Khái lệm chiến lược ~ Chandler là một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược, theo ông: "Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bỗ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này" [3, tr10]. - Đến những năm 1980, Quinn đưa ra định nghĩa chiến lược có tính khái quát hơn, theo ông “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chủ yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được gắn kết một cách chặt chẽ” [3, tr. - Xem xét trong điều kiện môi trường kinh doanh liên tục thay đổi, Johnson và Seholes cho rằng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tô chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” [3, tr.Porter, 1996: ““Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt; Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh; Thứ ba, chiến lược là việc tạo sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty”. ~ Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược qua định nghĩa chiến lược với 5 chữ P [3, tr.