Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa hòa giải vụ việc dân sự 1. Khái niệm hòa giải vụ việc dân sự Luật tố tụng dân sự Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự (TTDS) để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng, đúng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Pháp luật TTDS quy định quyền, nghĩa vụ của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự.
Pháp luật TTDS xác định vai trò, trách nhiệm chủ động, tích cực của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời bảo đảm cho các đương sự trong vụ án có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, trong đó tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự được xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS. Khi tranh chấp phát sinh, tham gia vào quá trình tố tụng, các đương sự có toàn quyền trong việc quyết định các quyền, lợi ích dân sự của mình. Trong suốt quá trình tham gia tố tụng, các đương sự đều có quyền tự thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc tự thỏa thuận của các đương sự được thực hiện trên nguyên tắc quyền tự định đoạt, kết quả hòa giải chưa có sự tham gia của Tòa án.
Song, để tạo điều kiện cho các bên đương sự thương lượng, thỏa thuận, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án có trách nhiệm hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các đương sự - 11 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là một trong những nguyên tắc quan trọng thể hiện tính đặc trưng và riêng biệt của TTDS, thể hiện những tư tưởng pháp lý cơ bản để điều tiết hành vi tố tụng của Tòa án và của những người tham gia tố tụng. Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, nhưng quan niệm về hòa giải còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Theo Từ điển tiếng Việt: “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thỏa” [51, tr.
Khái niệm này đề cập đến hành động và mục đích của hòa giải, nhưng chưa nêu được đầy đủ các yếu tố như bản chất, nội dung, và chủ thể của hòa giải. Trong khoa học pháp lý cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hòa giải. Có quan điểm cho rằng: “hòa giải là quá trình giải quyết những tranh chấp, bất đồng giữa các bên. Trong quá trình hòa giải cần đến bên thứ ba với vai trò trung lập, làm trung gian giúp các bên tranh chấp giải quyết được những bất đồng và đạt được một thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó” [22].
Theo quan điểm này, hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh chấp. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp hòa giải đều thành công. Khi đó, dù mâu thuẫn chưa được giải quyết hoàn toàn nhưng các bên tranh chấp cũng có cơ hội hiểu rõ hơn nội dung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương và cũng được nghe ý kiến của đối phương về vụ tranh chấp. Từ đó, hai bên có thể phần nào tìm được tiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn.
Cũng có ý kiến cho rằng: “hòa giải là một chế định quan trọng của luật tố tụng dân sự, là phương pháp giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự” [10]. Quan điểm này đã nêu được vai trò, ý nghĩa của chế định hòa giải trong TTDS, nhưng chưa phản ánh được bản chất - 12 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của hòa giải các vụ án dân sự. Việc giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận của các đương sự có thể được chia thành hai trường hợp: trường hợp do các đương sự tự hòa giải và trường hợp do các đương sự hòa giải với sự giúp đỡ của Tòa án. Hai trường hợp giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự nêu trên có bản chất khác nhau; bởi lẽ, hai trường hợp này dẫn đến hai kết quả giải quyết khác nhau về vụ án dân sự.
Nếu các đương sự tự hòa giải thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, còn trường hợp do Tòa án tiến hành hòa giải giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó. Hòa giải vụ việc dân sự là hoạt động do Tòa án tiến hành giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên, chủ thể của hòa giải lại chính là các đương sự, các đương sự mới là chủ thể có quyền quyết định và thỏa thuận về giải quyết vụ việc dân sự. Mặc dù không phải là chủ thể của hòa giải, song Tòa án có vai trò quan trọng trong việc xác định thời gian, thành phần, địa điểm, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và nội dung tranh chấp để các đương sự đi đến thống nhất về phương án giải quyết vụ việc.
Để cho hoạt động hòa giải của Tòa án được khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với pháp luật thì việc hòa giải phải tuân theo thủ tục do pháp luật quy định. Hoạt động hòa giải được Tòa án tiến hành trước khi xét xử, giải quyết vụ việc tại phiên tòa sơ thẩm vụ việc dân sự. Việc hòa giải vào thời điểm nào, bao nhiêu lần phụ thuộc vào kinh nghiệm giải quyết vụ việc của Thẩm phán. Song thông thường, Thẩm phán sẽ tiến hành hòa giải khi chứng cứ, tài liệu của hồ sơ vụ việc đã tương đối đầy đủ, Thẩm phán đã nắm rõ nội dung vụ việc, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, yêu cầu, tâm tư nguyện vọng của các bên đương sự.
Bên cạnh đó, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Tòa án vẫn tạo - 13 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều kiện để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự và việc thỏa thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc hòa giải trước khi xét xử, giải quyết sơ thẩm vụ việc dân sự là bắt buộc, trừ những việc không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải. Đa số các vụ việc dân sự bắt nguồn từ những mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa các chủ thể từ các quan hệ pháp luật nội dung, cho nên việc hòa giải của Tòa án là cần thiết.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hòa giải như sau: Dưới góc độ là một hoạt động của Tòa án, Hòa giải vụ việc dân sự là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự trước khi xét xử sơ thẩm. Dưới góc độ là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự, Hòa giải vụ việc dân sự là thủ tục do Tòa án tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự trước khi xét xử sơ thẩm. Đặc điểm hòa giải vụ việc dân sự Hòa giải và tự thỏa thuận (tự hòa giải) của các đương sự đều được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận của các bên đương sự. Và khi sự thỏa thuận là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ ghi nhận sự thỏa thuận đó.
Hòa giải vụ việc dân sự có những đặc điểm đặc trưng sau: - Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự Mặc dù hòa giải là một thủ tục do Tòa án tiến hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự mới có quyền hòa giải với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ - 14 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Họ là người hiểu rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ. Khi tham gia vào quá trình hòa giải, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận.
Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận. Không ai, bằng bất kỳ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Khi người đại diện của đương sự tham gia tố tụng thì họ có quyền thỏa thuận với đương sự phía bên kia về giải quyết vụ việc dân sự trong phạm vi đại diện. Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự tham gia tố tụng thì người đại diện của đương sự có toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của đương sự nên người đại diện theo pháp luật của đương sự có quyền tham gia hòa giải.
Song đối với vụ án ly hôn thì người đại diện theo pháp luật không có quyền hòa giải, bởi quan hệ nhân thân phải do các đương sự tự quyết định. Trong trường hợp người đại diện theo ủy quyền của đương sự tham gia tố tụng thì người đại diện của đương sự có các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong phạm vi ủy quyền nên người đại diện theo ủy quyền của đương sự có quyền tham gia hòa giải nếu được đương sự ủy quyền.