Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM CHẾ ĐỊNH HOÀ GIẢI, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự Từ xưa đến nay, trong bất kỳ xã hội nào, để tồn tại và phát triển, con người đều phải tham gia vào các quan hệ xã hội ở các mức độ khác nhau. Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, mâu thuẫn về quyền, lợi ích là điều khó có thể tránh khỏi.
Xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, kéo theo đó là các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên gia tăng không ngừng. Nếu các mâu thuẫn, tranh chấp này không được giải quyết kịp thời, thỏa đáng sẽ để lại nhiều hệ lụy không tốt cho các bên tham gia quan hệ pháp luật cũng như cho toàn xã hội. Trong xã hội dân sự việc các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động cũng có thể nảy sinh các tranh chấp, xung đột về quyền lợi ích hoặc ngay cả khi các bên không có tranh chấp về lợi ích thì mối bất hòa giữa các bên cũng cần được giải quyết để ổn định trật tự của các quan hệ pháp luật. Để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp hoặc bất hòa này thì các chủ thể có thể lựa chọn nhiều phương thức giải quyết khác nhau như tự thương lượng, thỏa thuận hoặc hòa giải thông qua người thứ ba, trọng tài hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp nêu trên thì hòa giải được coi là phương thức có nhiều ưu điểm nhất. Việc tự thương lượng, thỏa thuận hoặc hòa giải thông qua người thứ ba, trọng tài được coi là hòa giải tiền tố tụng không gắn với hoạt động tố tụng của Tòa án. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong trường hợp các bên không thể giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp hoặc bất hòa thông qua con đường hòa giải tiền tố tụng thì họ cần phải thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự thì hòa giải là một trong những nguyên tắc quan trọng thể hiện tính đặc trưng và riêng biệt của TTDS.
Việc hòa giải xuất phát từ quyền tự định đoạt của các đương sự và là một phương thức để giải quyết tranh chấp hoặc một số yêu cầu nhất định phát sinh từ quan hệ pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động. Như vậy, ngay cả khi đương sự đã khởi kiện ra Tòa án thì tranh chấp giữa các bên vẫn có thể được giải quyết thông qua con đường hòa giải. Vậy hòa giải và hòa giải trong TTDS cần được hiểu như thế nào, đó là vấn đề mà chúng ta cần phải có sự nghiên cứu và kết luận. Theo nghiên cứu của chúng tôi thì có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về hòa giải.
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt: "Hòa giải là thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa" [39, tr. Khái niệm này đã chỉ ra được hành động và mục đích của hòa giải, nhưng chưa đề cập đến bản chất, nội dung, chủ thể của hòa giải. Theo quan điểm học thuật của các tố tụng gia Nhật Bản đã được ghi nhận trong pháp luật thì "Hòa giải là một bước củng cố thỏa thuận giải quyết tranh chấp thông qua sự nhượng bộ giữa các bên" [38, Điều 695]. Trong Từ điển pháp lý của Rothenberg, hòa giải (reconciliation) là: "hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít" [40, tr.
Còn theo Từ điển luật học Black Law thì hòa giải là: "sự can thiệp, sự là trung gian hòa giải, là hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục, dàn xếp tranh chấp giữa họ" [40, tr. Như vậy, có thể thấy định nghĩa hòa giải của Rothenberg đã nêu được bản chất của hòa giải nhưng vẫn chưa nêu được hành vi, vai trò trung gian của bên thứ ba trong hòa giải. Trong khi đó, Từ điển Luật học Black Law lại bao quát được các nội dung này. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu xét theo nghĩa Hán - Việt thì hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình.
Theo nghĩa này thì hòa giải còn bao hàm cả việc giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa các bên thông qua vai trò hướng dẫn, dàn xếp của bên thứ ba là trọng tài nhằm giúp các bên tranh chấp giải quyết được những bất đồng và đạt được một thỏa thuận phù hợp. Tuy nhiên, việc hòa giải thông qua trọng tài không phải là hòa giải trong TTDS. Các giáo trình về TTDS hiện nay chỉ đề cập tới vấn đề hòa giải trong các vụ án dân sự mà không đưa ra khái niệm về hòa giải trong TTDS. Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thỉnh đề cập tới vấn đề hòa giải dưới góc độ là một hoạt động tố tụng.
Theo đó, "Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự" [9, tr. Dưới góc độ thủ tục tố tụng, nếu xét theo nghĩa rộng thì hòa giải không những chỉ là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi có quyết định giải quyết vụ việc mà còn bao hàm cả việc các bên đương sự tự hòa giải với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong vụ việc dân sự và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó. Nếu xét theo nghĩa hẹp thì hòa giải trong TTDS là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án tiến hành trước khi quyết định đưa vụ việc ra giải quyết bằng một phiên tòa xét xử hoặc một phiên họp theo quy định của pháp luật. Theo đó, hòa giải là một thủ tục do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và hướng dẫn động viên các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Theo góc nhìn này thì có thể nhận thấy hòa giải trong TTDS là một khái niệm mà nội hàm của nó bao hàm các dấu hiệu cơ bản sau đây: - Hòa giải trong TTDS là hoạt động do Tòa án chủ động tổ chức và trực tiếp tiến hành với vai trò hướng dẫn, giải thích động viên các đương sự 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thỏa thuận, thương lượng hoặc là hoạt động tố tụng được tiến hành theo sáng kiến của chính các bên đương sự. - Buổi hòa giải thường diễn ra tại địa điểm do Tòa án lựa chọn và thông thường là tại trụ sở Tòa án. Tuy nhiên, việc hòa giải theo sáng kiến của chính các đương sự có thể được tiến hành ngoài trụ sở Tòa án. Pháp luật nước ta hiện nay dường như thiếu vắng các quy định về sự hỗ trợ của Tòa án về địa điểm hòa giải theo sáng kiến của các bên hoặc luật sư của họ.
- Kết quả hòa giải được Tòa án lập biên bản ghi lại nội dung các vấn đề mà các bên đương sự đã thỏa thuận được hoặc chưa thỏa thuận được nhằm tiếp tục giải quyết vụ án theo các trình tự thủ tục nhất định. Từ các phân tích trên, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm hòa giải như sau: Hòa giải trong tố tụng dân sự là việc các bên đương sự tự mình thương lượng, thỏa thuận về vụ việc sau khi Tòa án đã thụ lý vụ việc và hoạt động tố tụng do Tòa án trực tiếp tiến hành nhằm giúp các bên đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình, của đương sự mà họ đại diện, hướng dẫn, động viên các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Dưới góc độ chế định pháp luật, hòa giải được coi là một chế định trong pháp luật TTDS, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật TTDS giữa Tòa án và các đương sự trong việc hòa giải vụ việc dân sự. Các vấn đề liên quan tới hòa giải được pháp luật TTDS điều chỉnh bao gồm chủ thể hòa giải, nguyên tắc hòa giải, phạm vi hòa giải, thủ tục tiến hành hòa giải và hệ quả pháp lý của việc hòa giải.
Chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam có nguồn gốc từ truyền thống dân tộc. Từ xưa, người Việt Nam đã nhận thức được rằng chỉ có đoàn kết mới có thể đấu tranh chiến thắng thiên tai để tồn tại và phát triển. Trong cuộc sống hằng ngày, mâu thuẫn, tranh chấp là điều không thể tránh khỏi, với lối sống cộng đồng, hòa giải đã trở thành giải pháp quan trọng để 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giải quyết mọi tranh chấp quyền lợi ích hoặc bất hòa. Người Việt Nam vốn có truyền thống yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, có tinh thần đoàn kết, hòa thuận từ ngàn xưa.
Do vậy, ngay từ khi pháp luật chưa ghi nhận thì vấn đề hòa giải đã tồn tại. Khi có tranh chấp xảy ra thì hàng xóm, láng giềng, những người cao tuổi, có uy tín sẽ dàn xếp, phân tích trên cơ sở tình làng nghĩa xóm, giúp các bên tranh chấp thông cảm, thỏa thuận với nhau để giải quyết mâu thuẫn một cách êm đẹp. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước ta đã luôn coi trọng vấn đề hòa giải trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động. Dưới góc nhìn luật học thì việc coi hòa giải là một chế định quan trọng trong pháp luật TTDS xuất phát từ đặc thù của quan hệ pháp luật nội dung là các quan hệ được thiết lập trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận giữa các chủ thể.
Bản thân các đương sự là những người có quyền, lợi ích tranh chấp cho nên có thể tự định đoạt về việc giải quyết quyền, lợi ích của mình. Nếu nhìn rộng ra thì không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, chế định hòa giải đã được quy định trong pháp luật TTDS ở nhiều nước và hòa giải trở thành một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.