phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở. Thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 1. Khái niệm, các hình thức và vai trò thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 1. Hòa giải cơ sở và khái niệm pháp luật hòa giải ở cơ sở 1. Khái niệm hòa giải ở cơ sở Trong lý luận khoa học cũng như trong thực tiễn, tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều quan niệm về hòa giải.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên) thì hòa giải là: “làm cho ổn thỏa tình trạng mâu thuẫn xích mích giữa hai bên” [59, tr. Quan niệm này chỉ đưa ra một cách hiểu chung nhất về hòa giải mà chưa nêu được cách thức và đặc trưng pháp lý của nó. Theo từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thì hòa giải là: “thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [58, tr. Quan niệm này nêu lên phương thức và mục đích hòa giải nhưng lại chưa khái quát được bản chất, nội dung và các yếu tố cấu thành các loại hình hòa giải.
Về mặt pháp lý, theo từ điển Luật học thì hòa giải là: Tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự [28, tr. Quan niệm này không phân biệt được phương thức thương lượng tự giải quyết với phương thức hòa giải. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số luật gia lại cho rằng, hòa giải là chế định pháp luật về hòa giải, coi hòa giải như là một quy định, một trình tự, thủ tục để giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai… Cách tiếp cận này thiên nhiều về tố tụng trong khi hòa giải có thể được tiến hành cả trong tố tụng và ngoài tố tụng.
Các nhà hoạt động thực tiễn thì coi hòa giải là hành vi thuyết phục các bên tranh chấp xóa bỏ những mâu thuẫn, bất đồng. Trên thực tế, có nhiều loại hình hòa giải trong đời sống xã hội, mỗi loại hình có phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh riêng, cũng như có nội dung, thủ tục tiến hành, chủ thể tham gia và các đặc trưng pháp lý riêng. Vì thế khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung cho tất cả các loại hình hòa giải. Mặc dù vậy các hình thức hòa giải cũng có một số điểm chung giống nhau, đó là có sự tham gia của bên thứ ba độc lập nhằm giúp các bên tranh chấp giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn xảy ra trong đời sống.
Trên cơ sở đó, có thể rút ra một định nghĩa tổng quát về hòa giải như sau: Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, trong đó có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột và chấm dứt các tranh chấp, bất hòa. Hòa giải nói chung mang tính tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với truyền thống đạo đức xã hội. Có thể thấy hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp được Ủy ban nhân dân, Tòa án, Trọng tài và các tổ chức, cá nhân… sử dụng thường xuyên trong giải quyết tranh chấp. Theo pháp luật nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải như: hòa giải tại tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, hòa giải về tranh chấp lao động của hội đồng hòa giải lao động, hòa giải về tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân, hòa giải về tranh chấp thương mại, hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài, hòa giải trong cộng đồng dân cư ở cơ sở… Về cơ bản, có thể chia các hình thức hòa giải trên thành 2 loại, đó là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng.
Hình thức hòa giải tại tòa án và trọng tài là hòa giải trong tố tụng, các hình thức khác là hòa giải ngoài tố tụng. Hình thức hòa giải trong cộng đồng dân cư đã có từ lâu ở Việt Nam, trước khi Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (ngày 25/12/1998) được ban hành, và cũng được gọi là “hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở. Khác với các hình thức hòa giải tại tòa án và tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều mang tính thủ tục, bắt buộc thì hoạt động hòa giải ở cơ sở mang tính tự nguyện, tự quản xã hội; xuất phát từ đặc điểm lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc, lối sống cộng đồng, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái.
Điều 1 Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở quy định: Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư [51, tr. Điều 2 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở cũng đưa ra khái niệm về hòa giải ở cơ sở: Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư [8, tr. Các bên được đề cập ở đây có thể là các thành viên trong một hộ gia đình, các hộ gia đình với nhau hoặc các cá nhân với nhau. Thuật ngữ “cơ sở” theo quy định của Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và Nghị định này là thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các chợ cố định, tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí.
Ở đây nhấn mạnh đến “cơ sở” là nơi trực tiếp xảy ra tranh chấp. Đến Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, tại Điều 2 quy định thì Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này. Như vậy, hòa giải ở cơ sở là hoạt động của một bên trung gian để hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các chợ cố định, tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí theo quy định của pháp luật. Pháp luật hòa giải ở cơ sở Pháp luật hòa giải ở cơ sở là những quy định của pháp luật dùng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Pháp luật hòa giải ở cơ sở được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thầm quyền ban 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở, từ văn bản cao nhất là Hiến pháp cho đến văn bản luật và các văn bản dưới luật khác. Hòa giải ở cơ sở là một trong hình thức hòa giải có vai trò rất tích cực, thiết thực để giúp các bên tự nguyện, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp một cách nhẹ nhàng, hiệu quả, có lý, có tình, vừa hạn chế khắc phục được hậu quả, vừa giữ gìn được tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết tương thân, tương ái trong cộng đồng. Hòa giải ở cơ sở có ưu điểm cơ bản là giải quyết kịp thời ngay từ đầu các mâu thuẫn, tranh chấp không để tranh chấp trở nên gay gắt, “chuyện bé xé ra to” bằng các biện pháp giải quyết vừa có lý vừa có tình. Những người thực hiện và tham gia hòa giải là những người gần gũi, quen biết, hàng ngày cùng lao động, sinh hoạt, dễ tạo sự thông cảm giữa các bên.
Hòa giải ở cơ sở được thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế các vụ, việc khiếu kiện vượt cấp, giảm bớt các vụ việc phải đưa ra cơ quan có thẩm quyền hoặc Tòa án giải quyết, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của nhân dân và nhà nước. Hòa giải ở cơ sở còn trực tiếp tác động đến việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Khi hòa giải (dù là hình thức nào), hòa giải viên đứng ra hòa giải đều phải vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn các bên tranh chấp, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó xử sự phù hợp với quy định pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội.