phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ tự kỷ Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ tự kỷ tại trung tâm Sao Mai, Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của hoạt động công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ trẻ tự kỷ tại trung tâm Sao Mai, Hà Nội 13 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỶ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm hoạt động Theo tâm lý học đại cƣơng thì: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con ngƣời và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con ngƣời (chủ thể). Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời, bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau.
Quá trình đối tƣợng hóa ( còn gọi là xuất tâm): Chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động. Đây là quá trình tâm lý của con ngƣời đƣợc bộc lộ, đƣợc khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. Nhƣ vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu đƣợc tâm lý con ngƣời thông qua hoạt động của họ. Quá trình chủ thể hóa (còn gọi là nhập tâm): Trong đó con ngƣời chuyển nội dung khách thể (những quy luật, bản chất, đặc điểm.
của khách thể) vào bản thân mình tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân. Đây chính là quá trình con ngƣời chiếm lĩnh ( lĩnh hội) thế giới, là quá trình nhập tâm. Vì thế, ngƣời ta có thể nói tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan, nội dung tâm lý do thế giới khách quan quy định. Nhƣ vậy, trong hoạt động, con ngƣời vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý, ý thức của mình, hay nói khác đi, tâm lý, ý thức, nhân cách đƣợc bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động.
Khái niệm trong nghiên cứu này đƣợc hiểu hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người. Khái niệm công tác xã hội Theo hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ - NASW: 14 Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cƣờng hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đó. Theo hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế thông qua tại Montresal, Canada (IFSW): Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con ngƣời, tăng năng lực và giải phóng cho ngƣời dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con ngƣời và hệ thống xã hội, công tác xã hội tƣơng tác vào những điểm giữa con ngƣời với môi trƣờng của họ.
Nhân quyền và công tác xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề. Công tác xã hội chuyên nghiệp ra đời vào đầu thế kỷ XX ( năm 1901) tại trƣờng Đại học Côlômbia( Mỹ). Công tác xã hội mang tính chất xã hội, từ đây nó đánh dấu bƣớc chuyển công tác chính sách, giúp đỡ những ngƣời thuộc nhóm yếu thế một cách nghiệp dƣ thành hoạt động mang tính chuyên nghiệp. Công tác xã hội chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ con ngƣời, đã đƣa ra những cách thức và những cơ hội để xử sự với những ngƣời cần đƣợc giúp đỡ từ nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, bảo vệ họ thoát khỏi sự phân biệt, kỳ thị và sự bất công làm “thức dậy” tiềm năng của chính họ.
Khi bàn về khái niệm Công tác xã hội, có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau, cụ thể: Theo Foundation of Social Work Practice - cơ sở thực hành công tác xã hội: Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi ngƣời vƣợt qua những khó khăn của họ và đạt đƣợc một vị trí phù hợp trong xã hội. Công tác xã hội đƣợc coi nhƣ một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những nghiên cứu đã đƣợc chứng minh. Nó cung cấp một lƣợng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa. 15 Trong khi đó, theo hiệp hội công tác xã hội thế giới thì họ định nghĩa về công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự phát triển của xã hội thông qua sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, tăng cƣờng năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Công tác xã hội giúp con ngƣời phát triển đầy đủ, hài hòa và mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi ngƣời. Công tác xã hội còn đƣợc định nghĩa trên hai khía cạnh: Một mặt, công tác xã hội là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con ngƣời và hệ thống xã hội nhằm xây dựng và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng ngƣời yếu thế nhằm tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội. Mặt khác, công tác xã hội còn là một dịch vụ chuyên môn hóa, góp phần giải quyết các vấn đề về xã hội, về con ngƣời mang tính bức xúc nhằm thỏa mãn các lợi ích căn bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội; mặt khác, góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình. Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia dình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội [9].
Khái niệm hỗ trợ Hỗ trợ là động từ chỉ việc giúp đỡ lẫn nhau, giúp thêm vào nhƣ hỗ trợ bạn bè, hỗ trợ cho đồng nghiệp kịp thời. Hỗ trợ có nghĩa cần giống với khái niệm “trợ giúp”, “giúp” [23]. Giúp là việc góp sức làm cho ai việc gì hoặc đem cho ai cái gì đang lúc họ gặp khó khăn, đang cần đến hoặc là tác động tich cực, làm cho việc gì tiến triển tốt hơn [24]. Nói tóm lại, hỗ trợ đƣợc hiểu là: “trợ giúp những người gặp khó khăn hoặc những người yếu thế trong xã hội”.
Nhƣng đối với ngành công tác xã hội, hỗ trợ 16 không chỉ tốt hơn mà còn giúp ngƣời gặp khó khăn, yếu thế có thể nâng cao năng lực bản thân mình. Khái niệm trẻ tự kỷ Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy lạp: “Autism”, nghĩa là tự động, tự thân trong tâm thần học, đƣợc Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản của bệnh tâm thần phân liệt. Triệu chứng tự kỷ là nét cơ bản của các triệu chứng âm tính trong tâm thần phân liệt. Ngƣời bệnh mất đi phần lớn các chức năng giao tiếp và tƣơng tác với môi trƣờng xã hội.
Biểu hiện nhƣ là thu kín vào bên trong, khó giao tiếp, khó tƣơng tác. Chứng tự kỷ ở trẻ em đƣợc phát hiện và mô tả tại Mỹ và Úc bởi Leo Kanner (1943) và Hans Asperer (1944) dùng để chỉ một chứng bệnh (ngày nay gọi là rối loạn) biểu hiện bằng sự sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các phƣơng diện: Các chức năng tƣơng tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng; chức năng ngôn ngữ phát triển chậm và lệch lạc bất thƣờng, hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình, lặp đi lặp lại, bệnh phát trƣớc 36 tháng tuổi. Năm 1999, tại hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ đã đƣa ra định nghĩa: “ASD là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hƣởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhƣng ảnh hƣởng nhiều nhất dẫn đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội”. [14] Theo trang của Liên hợp quốc về tự kỷ thì: Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển suốt đời đƣợc thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời.
Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hƣởng đến hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội. Tự kỷ đƣợc biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tƣơng tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại. Theo hệ thống phân loại bệnh tật thế giới (ICD-10) của Tổ chức Y tế thế giới, bệnh tự kỷ là bệnh rối loạn phát triển lan tỏa với các triệu chứng nhƣ hạn chế khả năng tƣơng tác xã hội, hạn chế khả năng giao tiếp và có hành vi kém đa 17 dạng, lặp đi lặp lại (WHO, 1992).
Bệnh phát hiện trƣớc 3 tuổi và tỉ lệ mắc bệnh ở nam cao gấp 3 - 4 lần ở nữ. Qua khảo sát các khái niệm từ các nguồn khác nhau tôi cho rằng trẻ tự kỷ đƣợc hiểu nhƣ sau: Trẻ tự kỷ là trẻ có hội chứng rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Trẻ bị tự kỷ có những rối loạn về nhiều mặt nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ xã hội và hành vi. Một số đặc điểm cơ bản của trẻ tự kỷ: Đặc điểm về hình dáng cơ thể: Trẻ tự kỷ có bề ngoài nhƣ bình thƣờng.
Các công bố từ trƣớc tới nay chƣa có nghiên cứu nào nói đến sự khác thƣờng về thể trạng bên ngoài của trẻ tự kỷ. Đặc điểm cảm giác: Ngƣỡng cảm giác của trẻ tự kỷ không bình thƣờng. Do đó trong trị liệu trẻ tự kỷ ngƣời ta cũng quan tâm nhiều đến trị liệu giác quan hay điều hòa cảm giác. Đặc điểm về tƣ duy, tƣởng tƣợng: Trẻ tự kỷ cũng gặp khó khăn nhất định trong tƣởng tƣợng.
Do đó, trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì có trong trí nhớ, khó khăn trong việc tổng kết, khái quát để đƣa ra kết luận, rút kinh nghiệm.