CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm, đặc điểm, vai trò và yêu cầu của áp dụng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp. Một số khái niệm liên quan. Khái niệm hỗ trợ doanh nghiệp Trong khoa học pháp lý của Việt Nam chưa có định nghĩa hỗ trợ doanh nghiệp là gì.
Trong Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 cũng không đưa ra giải thích về khái niệm này. Để đưa ra khái niệm chính xác về “hỗ trợ doanh nghiệp” phải xem xét nội hàm của thuật ngữ này trong mối liên hệ giữa 2 thuật ngữ “hỗ trợ” và “doanh nghiệp” được quy định trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành. Theo từ điển tiếng Việt, “hỗ trợ” có nghĩa là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào10[57], còn ý nghĩa của từ “giúp”được hiểu là giảm bớt khó khăn 11 [57]. Quan hệ hỗ trợ là quan hệ phát sinh từ hai phía: phía bên hỗ trợ giúp đỡ bên được hỗ trợ hay được giúp đỡ.
Sự hỗ trợ thường được thực hiện cho những đối tượng yếu chưa đủ mạnh ở một góc độ nào đó 12 [38].Mục đích của hỗ trợ chủ yếu xuất phát từ ý chí, mong muốn của bên hỗ trợ là nhằm giúp đỡ bên được hỗ trợ giảm bớt hoặc giúp vượt qua những khó khăn, hoạn nạn thử thách hoặc những vấn đề nan giải mà bản thân người cần giúp đỡ không thể một mình giải quyết được và ngược lại bên được hỗ trợ cũng mong muốn được nhận hỗ trợ. Hỗ trợ có thể bằng tiền, các biện pháp tài chính hoặc bằng các biện pháp phi tài chính có thể hoặc không thể quy ra bằng tiền. Hỗ trợ kết thúc khi bên nhận hỗ trợ đã qua khỏi cơn khó khăn, hoặc bên 10 Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Từ điển Bách khoa, 1988. 11 Từ điển tiếng Việt, tlđd 12 Trần Minh Sơn (2020), “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp-Pháp luật và thực tiễn thi hành” 12 hỗ trợ xác định không còn cần thiết hoặc đã kết thúc thời hạn hỗ trợ mà bên hỗ trợ đặt ra không phụ thuộc vào ý chí của bên nhận hỗ trợ.
Do đó hỗ trợ chỉ là biện pháp tạm thời trong một thời hạn nhất định chứ không phải là thường xuyên, việc hỗ trợ về hình thức cũng như mức độ hỗ trợ phải phù hợp cho từng đối tượng (tức là phải là người thực sự khó khăn, cần hộ trợ), từng giai đoạn (tức là tùy từng thời điểm mà hình thức và mức hỗ trợ sẽ khác nhau). Đối với thuật ngữ “doanh nghiệp”, ở góc độ pháp lý, DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh 13 [58]. Thuật ngữ “kinh doanh” theo nghĩa rộng để chỉ một cách tổng hợp các hoạt động của quá trình đầu tư từ sản xuất, thương mại, vận tải hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận 14 [58]. Xem xét nội hàm của hỗ trợ DN trong mối quan hệ giữa bên hỗ trợ với tư cách là Nhà nước và bên nhận hỗ trợ là các DN thuộc mọi thành phần kinh tế có thể thấy rằng: Về phía DN, xuất phát từ mục tiêu của tất các DN khi tiến hành hoạt động kinh doanh là nhằm mục đích lợi nhuận.
Để tham gia và hoạt động hiệu quả trên thị trường, DN cần phải được trang bị các điều kiện cơ bản như: điều kiện về vốn, về nhân lực, về năng lực quản lý, về công nghệ và đặc biệt là điều kiện về hiểu biết pháp luật. Về phía Nhà nước cũng coi việc phát triển doanh nghiệp là giải pháp để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội do Nhà nước đặt ra từng giai đoạn. Để đạt được mục tiêu đó, Nhà nước đã tiến hành một loại các nhiệm vụ, giải pháp trong đó có hỗ trợ DN bằng các giải pháp, chính sách cụ thể tùy theo từng đối tượng DN, trong một giai đoạn cụ thể (trung hạn) (dài hạn) hoặc ngắn hạn (nhằm giải quyết các khó khăn của DN có tính cấp bách). 13 Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 14 Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 13 Do bản chất của hỗ trợ là đơn phương do đó việc quyết định lựa chọn đối tượng, hình thức hỗ trợ, thời hạn hỗ trợ phụ thuộc và quyết định của phía người hỗ trợ.
Điều này thấy rõ nhất ở thái độ của Nhà nước trong hoạt động hỗ trợ cho các DN của mình đều hướng tới một mục tiêu mục đích rõ ràng, nhiệm vụ cụ thể chứ không đại trà, chung chung , không phụ thuộc vào ý chí của người được hưởng hỗ trợ. Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra các giải pháp hỗ trợ theo những nguyên tắc được xác định cụ thể định hướng cho việc hoạch định ban hành các chính sách, pháp luật về hỗ trợ DN. Cũng qua các quy định nêu trên cho thấy sự hỗ trợ của Nhà nước phong phú đa dạng, có thể bằng các biện pháp tài chính như giảm thuế, chi phí, hỗ trợ bằng tiền (cụ thể trợ giúp để phát triển mạnh DN nhỏ, DN vừa), có thể bằng các biện pháp phi tài chính như: tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cải cách hành chính, giảm thủ tục, giấy tờ trong hoạt động kinh doanh; hoàn thiện pháp luật, chính sách để tạo sự bình đẳng giữa các DN (cụ thể là giúp cho các DN tư nhân trong việc tiếp cận các nguồn lực nhất là vốn, đất đai, tài nguyên. Từ phân tích trên tác giả cho rằng nội hàm hỗ trợ DN theo nghĩa rộng là tổng thể các biện pháp bao gồm tài chính và phi tài chính của Nhà nước nhằm giúp doanh nghiệp trong việc thành lập, hoạt động, có năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, mang lại doanh thu cho chủ sở hữu,người lao động đóng góp cho sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung.
Theo nghĩa hẹp thì hỗ trợ doanh nghiệp là tổng thể các biện pháp của Nhà nước nhằm giải quyết các khó khăn của doanh nghiệp về vốn, về tín dụng, về nguồn lực, về thuế và các lĩnh vực khác, giúp DN duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, nhằm đạt kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội theo các mục tiêu, nhiệm vụ do Nhà nước đặt ra cho từng giai đoạn. Khái niệm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Pháp luật hỗ trợ DN với tính chất là các quy định, cơ chế, chính sách và cách thức can thiệp từ góc độ Nhà nước để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy sự phát triển tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận. Do đó pháp luật về hỗ trợ DN bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Một là, xác định nội hàm của hỗ trợ DN; Hai là, xác định chủ thể nào có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện hỗ trợ DN; Ba là, xác định mục tiêu của hỗ trợ DN; Bốn là, xác định các biện pháp hỗ trợ cụ thể;Năm là, xác định các biện pháp hỗ trợ cụ thể đối với từng đối tượng DN cụ thể; Sáu là, xác định nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động hỗ trợ DN và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hỗ trợ DN.
Trên cơ sở nội hàm của thuật ngữ hỗ trợ DN, đặc thù của DN, tác giả cho rằng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp bao gồm các nội dung: nội hàm của hỗ trợ DN; nguyên tắc, mục tiêu, thời hạn của hỗ trợ DN; chủ thể thực hiện hỗ trợ; tiêu chí xác định đối tượng DN được hỗ trợ; trình tự, thủ tục thực hiện hỗ trợ; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong quá trình hỗ trợ, mục đích tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp góp phần vào việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hình thức pháp luật của hỗ trợ DN là các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách do Nhà nước ban hành có chứa đựng nội dung hỗ trợ DN như Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định của Chính phủ 15 hướng dẫn thi hành Luật, Thông tư của các Bộ hướng dẫn chi tiết từng vấn đề cụ thể. Hiện nay đối với hoạt động hỗ trợ đặc thù cho DNNVV chủ yếu được thực hiện theo Luật Hỗ trợ DNNVV được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Ngoài ra các nội dung hỗ trợ DN còn được quy định trong các luật chuyên ngành như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Công nghệ cao, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đất đai… Về nội dung hỗ trợ được quy định rất phong phú, đa dạng như: hỗ trợ thành lập DN15 [9]; hỗ trợ tư vấn hồ sơ thủ tục thành lập DN 16[9], hỗ trợ phát triển nguồn lực17 [9]; hỗ trợ ưu đãi đầu tư18 [64]; hỗ trợ ưu đãi tiếp cận thông tin chỉ dẫn kinh doanh [64]19; hỗ trợ pháp lý20 [8]; hỗ trợ tiếp cận tín dụng21[64]; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị 22[7]; hỗ trợ về vốn23 [64]; hỗ trợ thuế kế toán24 [64]; hỗ trợ mặt bằng sản xuất25 [64]; hỗ trợ bảo lãnh tín dụng 26[64].
Khái niệm áp dụng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp Pháp luật sau khi được Nhà nước ban hành cần phải được đưa vào cuộc sống. Hoạt động đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống gọi là áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật (ADPL) là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan Nhà nước.