phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn sẽ đƣợc triển khai trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Hồ Lục Thủy - hồ Gƣơm trong thành Thăng Long đến thời Lê - Trịnh Chƣơng 2: Hồ Gƣơm trong tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn đến năm 1888 Chƣơng 3: Hồ Gƣơm trong quá trình đô thị hóa thời Pháp thuộc đến đầu thế kỷ XX 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: HỒ LỤC THỦY - HỒ GƢƠM TRONG THÀNH THĂNG LONG ĐẾN THỜI LÊ - TRỊNH 1. Các ý kiến về nguồn gốc của hồ Khi bàn về nguồn gốc của hồ Gƣơm đa phần các nhà nghiên cứu đều đƣa ra ý kiến cho rằng hồ là một khúc chết của sông Hồng. Chẳng hạn nhƣ: Doãn Kế Thiện trong Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội xuất bản năm 1959, tái bản năm 1999 có ghi: “Hồ Hoàn Kiếm là một đoạn dòng cũ của sông Hồng còn sót lại” [71, tr. 93]; hay Trần Quốc Vƣợng và Vũ Tuân Sán trong Hà Nội nghìn xƣa xuất bản năm 1975 cũng cho rằng: “Cội nguồn của hồ Gươm, cũng như hồ Cổ Ngựa, hồ Hàng Bạc - Hàng Đào, hồ Sao Sa (Hàng Chiếu) là một khúc sông Hồng” [93, tr.
38] và “Hồ Gươm là một di tích khúc sông Nhị bị những bãi cát chèn ở phía bắc, phía đông” [93, tr. Nhƣ vậy giống một số hồ khác, hồ Gƣơm phát sinh và tiến hóa trong mối liên quan mật thiết với lịch sử phát triển của sông Hồng và hệ thống sông chảy ngoằn ngoèo trong thành phố Hà Nội gắn liền với các pha biển tiến, thoái diễn ra ở thời kỳ Holocen - một thời kỳ địa chất cách chúng ta khoảng vạn rƣỡi năm. Dòng sông bao giờ (nhất là về mùa lũ) thƣờng có khuynh hƣớng “cắt dòng” chảy thẳng, “bỏ lại” ở “chỗ uốn” nhiều phù sa. Sau đó phù sa “lấp hẳn” nơi con sông uốn khúc, làm cho khúc uốn đó biến thành hồ.
Sông Cái (sông Hồng, sông Nhị) nhiều phù sa, nhiều chi lƣu, thƣờng hay đổi dòng trên vùng châu thổ do chính nó tạo ra. Nguyễn Văn Siêu trong Bài ký về Nhị Hà có ghi: “Sông Nhị có nhiều chỗ eo, nhiều chỗ hiểm trở; giống như đai áo, đường thẳng bỗng khuất khúc; sông nghìn dặm tự nhiên quành, như cánh cung kéo căng dây” [66, tr. Khi đổi dòng phù sa của sông Cái nhiều khi lấp cửa các sông con và biến sông con từ một dòng chảy “nửa kín nửa hở” rồi sang “sông chết”. Sau đó vì cả lý do thiên tạo và nhân 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo (con ngƣời đắp đập - đƣờng ngang các sông chết), dòng sông cũ trở thành một dãy ao hồ.
Diện mạo của khúc sông Hồng chảy qua nội thành Hà Nội bây giờ chỉ mới định hình từ thế kỷ thứ IX hoặc X. Trƣớc đó dòng chảy có khác: sông Hồng chảy tới Yên Hà chỉ có một nhánh, nhánh ấy chảy qua Hải Bối, Nông Giang, Chiêm Trạch, Lực Canh, Xuân Canh. Tới Xuân Canh nhánh ấy không chảy ngay vào sông Đuống và xuống phía nam mà chảy băng qua bãi Tầm Châu. Sông Hồng chảy vào Nhật Tân xuống đến Hồ Khẩu, qua khu vực hồ Tây có một nhánh chảy xuống phía nam, đó là sông Tô Lịch, còn một nhánh chảy vòng quanh Thụy Khuê tới Nghi Tàm.
Đến Nghi Tàm, sông Hồng lại chia hai nhánh khác, một nhánh chảy theo hồ Trúc Bạch tới hồ Gƣơm, ô Đông Mác, Thanh Nhàn, Lạc Trung rồi tới lòng sông bây giờ. Ta có thể nhận biết đƣợc là khúc đê cũ bắt đầu từ phía tây ô Đông Mác, chạy theo đƣờng Lò Đúc - Hàm Long, tới Hàng Kèn qua phố Bà Triệu tới Hàng Trống đi lên các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đƣờng, chợ Đồng Xuân, phố Hàng Than. Một nhánh băng qua Yên Phụ, qua những bãi cát và lòng sông hiện nay rồi chảy vào sông Đuống. Sông Đuống lúc đó là nhánh chính của sông Hồng đổ ra biển.
Có thể tới khoảng thế kỷ IX hoặc X, sau một trận lũ lớn, dòng chảy sông Hồng tới Võng La không uốn cong lên Hải Bối mà phóng thẳng đi qua Phú Xá, Nhật Tân rồi buông xuôi dòng nhƣ hiện nay, để lại bên trái một bãi cát sau bồi dần thành bãi Tàm Xá và bên phải một khuỷu sông đã bị nghẽn tức là hồ Tây. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thành Tống Bình từ thế kỷ V đến thế kỷ X Trƣớc thế kỷ IX - X, hồ Tây chƣa định hình rõ, sông Nhị chảy vào hồ Tây, từ Nhật Tân xuống đến Hồ Khẩu (cửa hồ) có một nhánh sông con. Nhánh ấy là sông Tô Lịch, chia đôi ngả, một chảy xuống phía nam, một chảy lên phía bắc, qua Thụy Khuê, đƣờng Phan Đình Phùng, cống chéo Hàng Lƣợc (tên cũ là phố Sông Tô Lịch) băng qua Hàng Đƣờng (tên cũ là Cầu Đông) rẽ vào Ngõ Gạch và phố Nguyễn Văn Siêu, rồi lại nhập vào sông Nhị ở Chợ Gạo, Hàng Buồm. Hàng Buồm xƣa là phƣờng Giang Khẩu, thời chúa Trịnh Giang (đầu thế kỷ XVIII) đổi tên là Hà Khẩu, cả hai đều có nghĩa là cửa sông Tô nối với sông Hồng.
Sông Tô thông với sông Hồng từ hai điểm hồ Tây và Chợ Gạo nên ngày ấy nhánh sông to. Nhƣng khi sông Nhị đổi dòng, từ Hải Bối chạy thẳng về phía đông nam không mang nƣớc vào hồ Tây nữa, lại cuốn đất đóng hai cửa vào ra (cửa sông vào là Quảng Bá, cửa sông ra là Nghi Tàm). Đến thời điểm này khuỷu sông Hồng bị nghẽn lại và hai cửa vào ra bị 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lấp hoàn toàn thì hồ Tây mới chính thức hình thành. Nƣớc sông Nhị không thông với sông Tô nữa nên sông Tô cũng cạn dần.
Việc đổi dòng của sông Nhị và bít dòng chảy của sông Tô làm cho diện mạo của Hà Nội cổ bị thay đổi. Dòng chảy cũ của sông Hồng bị phù sa bồi lấp tạo nên dải đầm hồ san sát nhau. Những phố do con ngƣời lập nên trong quá trình sinh sống, ở giữa con đê cũ và con đê mới hiện nay xƣa là bãi cát bồi của sông Hồng, để lại nhiều mẩu sông tạo thành các hồ ao trong đó có hồ Gƣơm. Vì vậy, hồ Gƣơm cũng là một di tích khúc sông Nhị.
Trong Tang thƣơng ngẫu lục có ghi: “Hồ Gươm thông với nước ngoài sông hình thế rất to rộng” [19, tr. Nhìn trên các bản đồ cổ thì cũng thấy một dải hồ nối thông với nhau: hồ Tây - hồ Cổ Ngựa - hồ Hàng Đậu - hồ Hàng Khoai - hồ Thái Cực (Hàng Đào) với Cầu Gỗ bắc xuống hồ Tả Vọng (hồ Gƣơm) - hồ Hữu Vọng và một số đầm hồ khác kéo dài tới chùa Trƣờng Tín (nhà số 5 Hàng Chuối) rồi nối với sông Nhị. Toàn bộ dải hồ này là lòng cũ của sông Hồng đã bị bồi lấp, chia cắt mà thành. Những vệt hồ ấy nối lại sẽ cho ta thấy dòng chảy cổ của sông Hồng.
Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra kết luận rằng hồ Gƣơm là một khúc chết của sông Hồng khi nó đổi dòng. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc lại đƣa ra kiến giải về mặt địa chất liên quan đến hồ Gƣơm theo một hƣớng mới. Ông đã căn cứ theo kết quả Bản điều tra về hồ Gƣơm của PGS. Hà Đình Đức cho biết “trầm tích đáy hồ chủ yếu sét pha bùn cát và có sự phân tầng: tầng dưới là trầm tích vịnh biển, tầng trên là hỗn hợp bùn cát xáo trộn do tác động nhân sinh (nạo, vét, xáo trộn lớp trầm tích thời Holocen trung, cách đây từ 6000 năm đến 4500 năm với lớp bùn cát hiện đại do nước mưa và dòng chảy bề mặt mang tới), chưa tìm thấy trầm tích lòng sông cổ có trên đáy hồ” [56, tr.
Mặt khác, ngày nay khi xem xét các địa tầng ở nhiều lỗ khoan trên vùng Hà Nội, ta có thể thấy một quy luật khá rõ nét: bao giờ cũng có một tầng cuội sỏi sạn và cát thô nằm bên dƣới, đó là lòng sông cổ; bên trên là những tầng đất có hạt nhỏ dần đến mịn, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều chỗ có sét dẻo màu xám hay xám đen, chứa nhiều chất hữu cơ, đặc trƣng cho trầm tích đầm hồ. Vì sông Hồng có hai giai đoạn hoạt động, lúc chảy xiết xói mòn mạnh, tạo nên hạt thô, lúc chảy chậm, êm đềm sản phẩm là hạt mịn (sét) lắng đọng. Từ đặc điểm trầm tích của nhiều lỗ khoan trên vùng Hà Nội đem so sánh, đối chiếu với các lớp trầm tích của đáy hồ Gƣơm nên ông Nguyễn Vinh Phúc mới cho rằng kết luận hồ Gƣơm là một khúc chết của sông Hồng cần thời gian nghiên cứu kỹ hơn nữa. Những hoạt động liên quan đến hồ 1.
Hồ Lục Thủy - hồ Gƣơm thời Lý, Trần Năm 1010, vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lƣ về Đại La, đổi tên thành Thăng Long. Cảnh quan Kinh thành còn hoang sơ. Bởi cǎn cứ vào tấm bản đồ đƣợc vẽ nǎm 1490, từ thời Hồng Đức mang tên Trung Đô đồ thấy rằng cách thời vua Lý định đô đúng 480 nǎm, bốn phía Kinh thành còn mênh mang sông nƣớc. Nhìn trên bản đồ, so sánh với vị trí ngày nay ta thấy: phía đông có sông Hồng, nƣớc đỏ phù sa.
Phía bắc có sông Tô Lịch nối với sông Hồng ở đoạn Chợ Gạo, chảy vòng qua Hàng Lƣợc, Quán Thánh, đến Thụy Khuê - đầu làng Hồ Khẩu, lại nối với hồ Tây bằng hai cửa lớn, đến đoạn chợ Bƣởi, Nghĩa Đô, lại nối với sông Thiên Phù. Sông Thiên Phù thời nay hãy còn rất rộng, chảy từ sông Hồng, ở đoạn Phú Gia, Nhật Tân, theo hƣớng bắc - nam, đến chợ Bƣởi thì nối dòng với sông Tô Lịch cùng xuôi xuống phía nam, hòa với nƣớc sông Nhuệ. Vùng Vǎn Miếu và Bẩy Mẫu lúc ấy là một hồ nƣớc rất rộng. Nhìn trên bản đồ, thấy nƣớc thành một mảng dài uốn lƣợn tới mấy km, làm cho khu vực Vǎn Miếu bị nƣớc bao quanh nhƣ một hòn đảo, mà trên bản đồ ghi là Đại Hồ và còn nhiều hồ, ao, ngòi, lạch khác.
Vì nƣớc bốn mùa xanh nên có một thời hồ mang tên là Lục Thuỷ. Thời này phạm vi của hồ Lục Thủy rất rộng, gấp khoảng ba, bốn lần bây giờ. Hồ có hình thế “giáp điệu xuyên hoa”, nghĩa là kiểu đất bƣơm bƣớm châm hoa. Vì 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hồ có hai phần đối nhau nhƣ hai cánh bƣớm xèo rộng ra hai phía, phần trên vào khoảng từ Hàng Đào, Hàng Dầu trở xuống Hàng Khay, phần dƣới từ Hàng Khay - Tràng Tiền đến tận Hàng Chuối, Lò Đúc bây giờ, giữa hai phần hồ thắt lại.