Mở đầu Tây du ký, Ngô Thừa Ân đã gửi gắm tới độc giả thông qua những dòng đề tựa. Lời đề tựa này được Ngô Thừa Ân viết dưới hình thức thơ, chỉ ngắn gọn trong 8 dòng như sau: “Hỗn độn chưa chia trời đất loạn Mờ mờ mịt mịt chẳng ai hay Hồng mông từ khi Bàn Cổ mở Trong đục phân minh tự thuở này Che chở mọi loài nhờ trời đất Phát sinh muôn vật tốt lành thay Muốn biết công to của tạo hóa Đọc truyện Tây du giải ách đây. 21] Hai câu thơ đầu có ý nói về thuở hoang sơ hỗn độn, trời đất còn mờ mịt, trắng đen, thiện ác chẳng ai hay. Bốn câu thơ tiếp theo là nhắc đến câu chuyện Bàn Cổ khai thiên địa – vị thần đầu tiên trong thần thoại Trung Hoa.
Hai câu thơ cuối nghĩa là muốn biết công của tạo hóa ra sao, muốn hiểu được ý nghĩa của đời người thế nào, vậy cần phải hiểu Tây du ký. Như vậy, mục đích mà ông muốn chúng ta đọc Tây du ký là để hiểu được nỗi khổ đau của kiếp nhân sinh, công ơn tạo hóa sinh thành ra vạn vật, chứ không như phần đông chúng ta xem chỉ chạy theo tình tiết diễn biến ở truyện không thấy được cái hay tuyệt vời của tác phẩm. Tóm tắt tác phẩm Tiểu thuyết Tây du ký gồm có 100 hồi, kể về quá trình nhà sư Trần Huyền Trang (Đường Tam Tạng) được Quan Âm Bồ Tát bảo đến Thiên Trúc (Tây Thiên) thỉnh chân kinh. Đồng hành cùng ông là 4 đồ đệ: một con khỉ đá tên Tôn Ngộ Không, một yêu quái nửa người, nửa lợn tên Trư Ngộ Năng, một thủy quái tên Sa Ngộ Tịnh, một hoàng tử của Long Vương tên Bạch Long Mã.
Bọn họ đều mắc tội và đồng ý giúp ông đi thỉnh kinh để chuộc lại lỗi lầm. Nhìn chung, dựa trên nội dung truyện, ta có thể chia tác phẩm thành bốn phần với độ dài khác nhau: 14 Phần Một là từ hồi 1 đến hồi 7: Kể về lai lịch của Tôn Ngộ Không. Đó là một con khỉ đá được sinh ra từ một hòn đá tiên ở Hoa Quả Sơn nước Ngạo Lai. Từ nhỏ, y thông minh, lanh lợi, dũng cảm, được đàn khỉ xưng làm vương ở Hoa Quả Sơn (gọi là Mỹ hầu vương).
Sau đó, Tôn Ngộ Không rời Hoa Quả Sơn để đi tầm sư học đạo. Ở chỗ Bồ Đề Tổ sư, Tôn Ngộ Không học được 72 phép thần thông biến hóa và phép tránh “3 tai hại”. Có được tài năng ấy, Tôn Ngộ Không trở về náo động Long cung, thu được Gậy Như Ý để làm vũ khí, xuống cả động Âm ty xóa tên họ nhà khỉ trong sổ Sinh tử để được trường sinh bất tử. Do hai sự việc này mà Tôn Ngộ Không bị tố cáo lên Ngọc Hoàng.
Ngọc Hoàng nổi giận sai thiên binh, thiên tướng đi bắt. Nhưng không làm gì được y, Thiên đình bèn theo kế chiêu an phong cho Tôn Ngộ Không chức Bật Mã Ôn (chức chăn ngựa) để giữ chân y. Nhưng chẳng bao lâu thì y biết mình bị lừa, lại náo loạn Thiên cung đòi chức Tề Thiên Đại Thánh. Ngọc Hoàng Thượng Đế không còn cách nào khác nên đành đồng ý.
Tránh để Ngộ Không gây chuyện, lần này Ngọc Hoàng giao cho y trông coi vườn đào. Nào ngờ Tây Vương Mẫu mở Đại hội Bàn đào mà không mời Ngộ Không, thế là y đã phá tiệc Bàn đào rồi trốn về động khỉ. Ngọc Hoàng một lần nữa sai binh tướng đi thu phục Ngộ Không nhưng không thành. Phải đến khi Nhị Lang Thần cùng các huynh đệ của mình hợp sức lại mới bắt được y đưa về Thiên đình trị tội.
Thế nhưng sau khi bắt được Ngộ Không, Thiên đình dùng đủ mọi cách cũng không giết được y. Đem y bỏ vào lò Bát Quát, sau 49 ngày y lại thoát ra, lần nữa náo động Thiên đình. Cuối cùng, Ngọc Hoàng phải nhờ đến Phật Tổ Như Lai giúp đỡ, đem Tôn Ngộ Không bắt nhốt dưới núi Ngũ Hành suốt 500 năm. Phần Hai từ hồi 8 đến hồi 12: Giải thích nguyên nhân của việc đi thỉnh kinh và giới thiệu lai lịch các đệ tử.
Quan Thế Âm Bồ Tát vâng mệnh Phật Tổ đi tìm người sang Tây Thiên để thỉnh kinh Phật, truyền bá về phương Đông. Trên đường đến Trường An, Bồ Tát gặp Sa Ngộ Tịnh, nguyên là đại tướng coi xe loan ở điện Linh Tiêu (Quyển Liêm Đại Tướng), vì lỡ làm vỡ chén Lưu Ly trong hội Bàn đào mà bị đày làm quỷ trên sông Lưu Sa. Quan Âm Bồ Tát thu nạp, cho y làm đồ đệ đi thỉnh kinh để đổi kiếp. Lại gặp Trư Bát Giới, nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái vì chọc ghẹo nàng Hằng Nga mà bị đày xuống trần gian làm quái đầu lợn.
Lại gặp con rồng ngọc bị treo ngược giữa trời, đó là con trai của Tây 15 Hải Long Vương Ngao Nhuận phạm tội ngỗ nghịch chờ ngày xử trảm. Bồ Tát xin cho rồi hóa phép đem rồng nhỏ xuống khe Ưng Sầu, đợi đến khi người thỉnh kinh đến sẽ biến thành con ngựa giúp người đi thỉnh chân kinh. Lại gặp Tôn Ngộ Không đang bị đè dưới núi Ngũ Hành, Bồ Tát cho phép y đi theo hộ vệ người thỉnh kinh để cải tà quy chánh. Đến Trường An, Bồ Tát tìm được Trần Huyền Trang, một hòa thượng chân tu, có thể đảm nhiệm sứ mệnh sang phương Tây thỉnh kinh.
Phần Ba từ hồi 13 đến hồi 98: Thuật lại cuộc gặp gỡ các đồ đệ và quá trình đi thỉnh kinh của Đường Tăng. Ban đầu có 2 người phò tá Đường Tăng. Đáng tiếc thay, vừa ra khỏi biên giới Đại Đường thì bị yêu quái giết. Nhờ có Thái Bạch Kim Tinh cứu nên Đường Tăng may mắn sống sót.
Sau đó Đường Tăng được thợ săn Lưu Bá Khâm giúp đỡ trước khi gặp đồ đệ đầu tiên là Tôn Ngộ Không. Khi tới chân núi Ngũ Hành thì gặp được Tôn Ngộ Không đang chờ người thỉnh kinh, y mở lời nhận sư phụ và xin đi theo phò tá người an toàn. Đường Tăng thấy Ngộ Không có lòng bèn gỡ đạo bùa chữ vàng yểm trên đỉnh núi, giải phóng cho y và thu nhận làm đệ tử. Với cây gậy thần trong tay, lại thông thạo 72 phép thần thông biến hóa, Tôn Ngộ Không đã tiêu diệt hết mọi yêu ma quỷ quái cản đường.
Kế đó, Đường Tăng lại thu nhận rồng ngọc ở khe Ưng Sầu, Trư Bát Giới ở động Vân Sơn, Sa Ngộ Tịnh ở sông Lưu Sa. Đoàn thỉnh kinh tới đây đã đầy đủ năm thầy trò. Chặng đường này của năm thầy trò vô cùng nguy hiểm với những yêu quái và yêu tinh ma mị luôn rình rập muốn ăn thịt hoặc cám dỗ Đường Tăng. Cuối cùng, năm thầy trò vượt qua tất cả 81 kiếp nạn, đến xứ sở Phật tổ thỉnh được chân kinh.
Phần Bốn là hồi 99 và 100: Thuật lại về quá trình thầy trò Đường Tăng thắng lợi trở về. Cả năm thầy trò Đường Tăng cuối cùng đều tu thành chánh quả, công đức viên mãn. Trần Huyền Trang do có tâm tu hành hướng Phật, từ bi phổ độ chúng sinh, được phong làm Chiên Đàn công đức Phật hay Công đức Phật Tổ hay Vô lượng Công đức Phật. Tôn Ngộ Không do có tài phép đánh yêu diệt quái, ngay cả chư tiên cũng khó sánh bằng, lại có công phò tá Đường Tăng thỉnh kinh, được phong làm Đấu Chiến thắng Phật.
Trư Bát Giới do không có tâm tu hành, còn bị tham, sân, ái, ố làm ảnh hưởng dục tâm, không được làm Phật. Nhưng do có công phò tá Đường Tăng, được khôi phục tướng 16 người và nhận chức Tịnh Đàn Sứ giả. Sa Ngộ Tịnh có tâm hướng phật, phò trợ Đường Tăng, thoát khỏi thất tình lục dục, được phong làm Kim Thân La Hán. Bạch Long Mã có công cõng Đường Huyền Trang trên đường đến Tây Thiên nên được phong làm Bát Bộ Thiên Long.
Các giá trị chính về phương diện nội dung ý nghĩa và hình thức nghệ thuật của Tây du ký 1. Nội dung ý nghĩa Tây du ký là một thể loại tiểu thuyết chương hồi. Tác phẩm viết về thế giới của thần - người - yêu ma nhưng không hẳn vì thế mà mất đi giá trị của lịch sử. Tác phẩm vốn được xây dựng dựa trên sự kiện lịch sử có thật.
Đó chính là sự kiện Huyền Trang đi tìm kinh Phật vào thời nhà Đường. Năm thứ 2 niên hiệu Trinh Quán (628), dưới thời vua Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) có một vị sư trẻ tuổi tên là Trần Huyền Trang không sợ gian nan hiểm trở, một mình khởi hành từ Trường An sang Thiên Trúc (Tây Thiên) để thỉnh kinh. Ông đi đến 17 năm, qua hơn năm mươi nước, trải qua trăm cay nghìn đắng, chín phần chết một phần sống. Ông ở lại Tây Thiên học hỏi trong vòng 2 năm, đồng thời từng là chủ giảng trong một cuộc biện luận lớn về Phật giáo, nhận được nhiều sự khen ngợi từ mọi người.
Năm Chính Nguyên thứ mười chín (645), Huyền Trang trở về Trường An, mang về sáu trăm năm mươi bảy bộ kinh Phật. Sau khi trở về, Huyền Trang kể lại những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến hành trình về phương Tây. Sau này, người ta mới dựa vào cốt truyện trên mà sáng tạo ra những tác phẩm mang đầy trí tưởng tượng về hành trình thỉnh kinh này của Huyền Trang. Trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân, nội dung đã được sáng tạo lại và chủ yếu xoay quanh hành trình đi thỉnh kinh của Đường Huyền Trang cùng 4 vị đồ đệ của ông là Tôn Ngộ Không, Trư Ngộ Năng, Sa Ngộ Tịnh và Bạch Long Mã.
Trên hành trình này, 5 thầy trò đã phải trải qua 81 kiếp nạn với muôn vàn khó khăn, trắc trở. Sau cùng, 5 thầy trò đã thành công tới được cửa Phật, lấy được chân kinh và đều tu thành chánh quả, công đức viên mãn. Không chỉ vậy, nội dung của Tây du ký còn được thể hiện ở một tầng nghĩa sâu xa hơn. Nó không chỉ đơn thuần là quyển tiểu thuyết hư cấu mang tính chất tưởng tượng 17 phong phú, hài hước, mà đằng sau đó tác giả còn gửi gắm những ưu tư và hoài bão của mình về xã hội Trung Quốc đương thời.
Ngô Thừa Ân sinh ra trong một thời đại mà triều đình phong kiến đã bộc lộ nhiều biểu hiện thối nát. Vốn là người thông minh, có nhiều tài năng nhưng ông lại không thuận lợi trong thi cử. Hoàn cảnh cuộc sống nghèo khó cùng với sự từng trải trên đường đời đã khiến ông nhận thức sâu sắc về các cuộc tranh đấu khắc nghiệt chốn quan trường và nhân tình thế thái trong xã hội. Chính những điều ấy đã gieo rắc trong lòng ông sự bất bình và chống đối.