Chương 1 MỘT SÓ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT ĐÓI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỒI PHẠM TỘI vấn đề hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một nội dung đặc biệt của trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuồi phạm tội trên cả phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, do đối tượng áp dụng hỉnh phạt tù có thời hạn là người dưới 18 tuổi-một trong các nhóm yếu thế được pháp luật đặc biệt bảo vệ. Do đó, khi nghiên cứu để đánh giá kết quả thực hiện và kiến nghị hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự nói chung và các quy định của pháp luật hình sự nói riêng về hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì cần phải làm rõ về mặt lý luận những tính chất, đặc thù của nội dung này. Từ lý do đó, Chương này tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung bao gồm: khái niệm, đặc điểm hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; cơ sở của việc quy định hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và khái quát lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đến trước khi ban hành BLHS năm 2015. Khái niệm, đặc điểm hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1.
Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Dù ở bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ châu lục nào, bất cứ thể chế chính trị nào thì vấn đề người dưới 18 tuối phạm tội đều là một hiện trạng đáng lo ngại của toàn xã hội, một vấn đề phức tạp cần được giải quyết của cả thế giới. Tuy nhiên, thế nào là người dưới 18 tuổi phạm tội lại được tiếp cận ở những khía cạnh khác nhau ở mỗi một quốc gia, mỗi một khu vực tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình kinh tế-xã hội, phong tục, tập quán, vàn hóa, trình độ dân trí và thề chế chính trị. Do đó, trước khi đi làm rõ khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội, tác giả làm rõ khái niệm người dưới 18 tuồi. 9 Dưới khía cạnh pháp luật quôc tê, có nhiêu thuật ngữ khác nhau dùng đê gọi người dưới 18 tuồi như người chưa thành niên, trẻ em, trẻ vị thành niên, thanh thiếu niên.
Đa số các quốc gia trên thế giới đều quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật về độ tuổi cụ thể là người chưa thành niên, từ đó xác định năng lực hành vi của đối tượng này. Cụ thể: Tại Điều 1 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (có hiệu lực từ năm 1990) của Liên họp quốc quy định như sau: “Trongphạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới ĩ8 tuồi, trường họp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuôi thành niên sớm hơn” [201. Tại quy tắc số 2.2 mục a Quy tắc tối thiểu chung của Liên họp quốc về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên 1985 (Quy tắc Bắc Kinh) nêu: “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tùy theo từng hệ thống pháp luật cụ thế bị xét xử vi phạm theo phương thức khác với việc xét xử người lớn” [19]. Tại quy tắc số 11 mục a Quy tắc tối thiểu chung của Liên họp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do 1990 nêu: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuôi.
Giới hạn tuổi thấp hơn mức này thì không được tước tự do của trẻ em nếu không được pháp luật quy định” [21]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), độ tuổi vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi, thanh niên trẻ là lứa tuổi từ 19 đến 24 tuổi. Như vậy, khi đưa ra khái niệm người dưới 18 tuổi, luật pháp quốc tế đều dựa trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý hay sự phát triển về thể chất và tinh thần thông qua việc xác định độ tuồi. Tuổi được xác định bằng số năm dương lịch tính từ khi sinh ra đến một thời điểm nào đó.
Việc xác định độ tuồi mà một người có đủ khả năng nhận thức đầy đủ, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự từ đó phải gánh chịu hậu quả pháp lý từ hành vi mà mình thực hiện. Trên cơ sở đó, người dưới 18 tuổi được xác định là người tính từ ngày sinh ra đến thời điểm cần tính là chưa đủ 18 năm dương lịch. Trong pháp luật Việt Nam, Luật Trẻ em năm 2016 cũng đã ghi nhận “trẻ em là người dưới 16 tuổi” [32, Điều 1]. Trong quy định cùa pháp luật hình sự, kế thừa từ các quy định của luật pháp quốc tế và trong lịch sử lập pháp, thuật ngữ “người 10 dưới 18 tuôi phạm tội” là thuật ngữ được xác định từ hai thuật ngừ phạm tội và tuôi chịu trách nhiệm hình sự trong quy định cùa pháp luật hình sự.
Với mỗi quốc gia thì việc • xác định • độ• tuổi chịu ♦ trách nhiệm • hình sự• là khác nhau. Trong BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì không sử dụng cụm từ “người dưới 18 tuối phạm tội” mà sử dụng cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” [28], [29] để chỉ đối tượng nêu trên. Lê Cảm và TS. Đỗ Thị Phượng đã đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội tương đối đầy đủ, khái niệm như sau: “Người chưa thành viên phạm tội là người từ đủ ỉ4 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và có lỗi (cố ỷ hoặc vô ỷ) trong việc thực hiện hành vỉ nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm" [5, tr.
Hai tác giả đã đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội nêu trên là tù’ cơ sở đặc điểm về tâm, sinh lý của họ tại thời điểm phạm tội, để xác định tính chất phạm tội với hành vi phạm tội của người chưa thành niên sao cho xác định việc áp dụng hình phạt cho phù hợp. Trong BLHS năm 2015, “người dưới 18 tuổi phạm tội” được các nhà làm luật sử dụng với tư cách vừa là đối tượng tác động của tội phạm, vừa là chủ thế thực hiện tội phạm. Với tư cách là chủ thề của tội phạm, người dưới 18 tuồi phạm tội là khái niệm có tính pháp lý cao đồng thời có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, thể hiện tính nhân đạo trong việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuối phạm tội. Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng chỉ những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuồi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi nguy hiềm cho xã hội do mình thực hiện.
Theo đó, xác định rất rồ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: (1) đối với người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự; (2) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuồi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; (3) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm [31]. Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, đang trong quá trình hoàn thiện bản thân. Do đó, người dưới 18 tuổi thường hành 11 động theo cảm tính một cách bông bột, thiêu kinh nghiệm sông, thiêu hiêu biêt hoặc chua hiểu chính xác về pháp luật. Con nguời là một thực thể xã hội phức tạp, mâu thuẫn, luôn chịu sự tác động của các yếu tố về môi trường, giáo dục và môi trường xã hội đã góp phàn không nhỏ vào quá trình hình thành nhân cách con người [47, tr.
Môi trường sống lại có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách cũng như tác động đến hành vi của họ. Họ cũng rất dễ học hỏi, làm theo cách hành động đẹp, chuẩn mực, hình thành nhân cách tốt, phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần, trở thành công dân tốt có ích cho xã hội nếu được sống trong môi trường giáo dục tốt từ gia đình, nhà trường, bạn bè và xã hội. Ngược lại, họ cũng dễ tiếp thu thói hư, tật xấu, dễ bị tha hóa về nhân cách, tâm lý vặn vẹo và dễ xúc động, dễ bị lôi kéo tham gia vào các hành vi vi phạm pháp luật hoặc thậm chí cả những hành vi giết người man dợ. nếu sống trong một môi trường giáo dục không lành mạnh.
Chính vì vậy, khi đưa ra khái niệm người dưới 18 tuối phạm tội, cần phải dựa trên sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của con người, được cụ thể hóa bằng giới hạn tuổi trong các văn bản pháp luật. Từ đó, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ tương ứng, phù hợp với người dưới 18 tuổi. Theo các lập luận nêu trên thì có thể đưa ra khái niệm người dưới 18 tuối phạm tội như sau: Người dưới ĩ8 tuổi phạm tội là ngưòl cỏ năng lực trách nhiệm hình sự và tại • thời diêm thực • hiện • hành vi nguy hiếm cho xã hội • mà Bộ• Luật • Hình sự• quy / định • là tội phạm từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Khái niệm hình phạt tù có thời hạn đối vớỉ người dưới 18 tuồi phạm tội “Hình phạt là một phạm trù pháp lỷ và xã hội phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và phát luật” [40, tr.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Hình phạt vừa là nội dung vừa là phương tiện của chính sách pháp luật hình sự của nhà nước, bảo đàm cho BLHS có thế thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tồ chức, bảo vệ trật tự xã hội, chống mọi hành vi phạm tội đồng thời giáo dục mọi người có ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [39]. Tính nghiêm khắc nhất của hình phạt được thể 12 hiện ở chô, ngoài việc bị tước bở hoặc hạn chê quyên, lợi ích, bị áp dụng hình phạt thì người thực hiện tội phạm còn chịu án ích-đây là hậu quả mà các dạng trách nhiệm pháp lý khác không có.