Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TRỤC XUẤT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HÌNH PHẠT TRỤC XUẤT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm hình phạt trục xuất Hệ thống hình phạt theo luật hình sự Việt Nam hiện hành từ sau lần pháp điển hóa lần thứ hai (1999) đƣợc điều chỉnh tại 15 điều của Chƣơng V độc lập " hình phạt" trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Từ Điều 26 đến Điều 40) bằng các quy phạm riêng biệt chặt chẽ và chính xác với những điều kiện áp dụng cụ thể 12 loại hình phạt (các điều 29 -40) có tính chất bắt buộc đối với các tòa án là: 1. Cải tạo không giam giữ (từ 6 tháng đến 3 năm); 3.
Tù có thời hạn; 4. Tù chung thân; 5. Cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; 7. Tƣớc một số quyền công dân; 10.
Tịch thu tài sản; 11. Phạt tiền; và 12. Trục xuất [7, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong đó, trục xuất là một loại hình phạt mới, lần đầu tiên đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.
Đây là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn và nặng hơn hình phạt cải tạo không giam giữ. Trƣớc khi đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, trục xuất đƣợc quy định và áp dụng nhƣ là một biện pháp hành chính. Trục xuất là biện pháp cƣỡng chế đƣợc quy định trong Sắc lệnh số 205-SL ngày 18/8/1948, và đến năm 2000 đƣợc quy định trong Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cƣ trú của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam ngày 28/04/2000. Trục xuất là hình phạt buộc ngƣời nƣớc ngoài (ngƣời không có quốc tịch Việt Nam) trong thời hạn nhất định phải rời khỏi lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuy nhiên, xuất phát từ tính phức tạp của việc xử lý những trƣờng hợp chủ thể là ngƣời nƣớc ngoài, Điều 32 Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định những điều kiện cụ thể để áp dụng hình phạt này, đồng thời cũng không quy định hình phạt này vào điều luật cụ thể trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự [5, tr. Cũng theo Điều 32 Bộ luật hình sự năm 1999, hình phạt trục xuất đƣợc áp dụng vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung tùy vào từng trƣờng hợp cụ thể. Nghiên cứu pháp luật nƣớc ngoài cho thấy đa số các nƣớc quy định trục xuất với tƣ cách là một biện pháp cƣỡng chế hành chính, thậm chí có nƣớc trƣớc đây quy định trục xuất là một hình phạt trong luật hình sự thì nay nó chỉ còn đƣợc quy định là một biện pháp cƣỡng chế hành chính, ví dụ nhƣ Cộng hòa Liên bang Đức (trục xuất đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự của Đức với tên gọi là biện pháp An ninh và Cải tạo theo Đạo luật chống những ngƣời phạm tội chuyên nghiệp nguy hiểm và về các biện pháp an ninh và cải tạo. Năm 1969, trục xuất đã bị loại bỏ khỏi danh mục các biện pháp an ninh và cải tạo trong Bộ luật hình sự.
Hiện nay, trục xuất đƣợc quy định trong đạo luật về ngƣời nƣớc ngoài với tính chất là một biện pháp cƣỡng chế hành chính). Ngày nay trục xuất với tƣ cách là hình phạt chỉ đƣợc quy định trong luật hình sự một số nƣớc và việc quy định hình phạt này trong luật hình sự mỗi nƣớc cũng rất khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Bộ luật hình sự của Trung Quốc, trục xuất đƣợc quy định tại Điều 35 là loại hình phạt có thể đƣợc áp dụng với tƣ cách là hình phạt độc lập hoặc hình phạt bổ sung đối với ngƣời nƣớc ngoài phạm tội, tức là, trục xuất đƣợc quy định vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung. Điều luật này cũng không quy định rõ điều kiện, phạm vi, thời hạn của hình phạt này nhƣ Việt Nam.
Có thể các nhà lập pháp nƣớc ta đã nghiên cứu tham khảo và tiếp thu kinh nghiệm này của Trung Quốc khi xây dựng chế định hình phạt trục xuất trong Bộ luật hình sự năm 1999 của mình? [55, tr. Nghiên cứu Bộ luật hình sự của Cộng hòa dân chủ Đức năm 1968 cho thấy hình phạt trục xuất đƣợc quy định tại Điều 59 với tƣ cách vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung. Trục xuất áp dụng với ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Cộng hòa dân chủ Đức mà phạm tội. Khoản 1 Điều 2 Luật Quốc tịch ngày 20/2/1967 cũng quy định rõ trục xuất không áp dụng đối với những ngƣời mang hai quốc tịch: Quốc tịch Cộng hòa dân chủ Đức và quốc tịch nƣớc khác.
Điều 5 các luật về ngƣời nƣớc ngoài cũng quy định không đƣợc áp dụng hình phạt này với ngƣời tị nạn chính trị tại Cộng hòa dân chủ Đức. Trong Bộ luật hình sự của Thụy Sĩ, Điều 55 quy định trục xuất chỉ với tính chất là hình phạt bổ sung. Theo Điều luật này, hình phạt trục xuất đƣợc quy định chỉ áp dụng với ngƣời nƣớc ngoài bị kết án tù khổ sai hoặc tù có thời hạn từ 3 năm đến 15 năm. Nhƣ vậy, luật hình sự Thụy Sĩ cũng xác định rõ đối tƣợng và phạm vi áp dụng hình phạt trục xuất [55, tr.
Luật hình sự của Thụy Điển cũng có quy định trục xuất ngƣời bị kết án là ngƣời nƣớc ngoài. Tuy nhiên, khác với luật hình sự nƣớc ta, trục xuất trong luật hình sự của Thụy Điển không phải là hình phạt mà chỉ là một biện pháp an ninh áp dụng đối với ngƣời bị kết án về một tội nghiêm trọng [17]. Ở Hoa Kỳ, hình phạt trục xuất đƣợc quy định trong Bộ luật Di trú. Theo Điều 237 của Bộ luật này thì trục xuất đƣợc áp dụng với ngƣời không phải công dân Hoa Kỳ đã nhập cảnh Hoa Kỳ phạm tội hình sự trong những trƣờng hợp: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khi ngƣời nƣớc ngoài phạm tội có tính cách suy đồi đạo đức (Moral Turpitude) và tội đó có thể bị phạt từ 01 năm tù trở lên thì sẽ bị trục xuất; - Nếu đƣơng sự phạm hai tội có tính cách suy đồi đạo đức thì đƣơng sự bị trục xuất, dù tội đó là nhỏ nhặt.
Điều luật cũng quy định nếu bị cáo bị kết án về tội nghiêm trọng (aggravated felony) thì sẽ bị trục xuất, đó là những tội: giết ngƣời, hãm hiếp, cƣớp tài sản và bị phạt tù trên 01 năm, buôn lậu ma túy, buôn lậu vũ khí, những tội hành hung và bị án tù trên 1 năm, những tội giả mạo chữ ký, giấy tờ và bị phạt tù trên 01 năm, những tội gian lận và gây thiệt hại cho nạn nhân trên 10000 USD [55, tr. Theo Điều 2 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Điều 3 Pháp lệnh xuất nhập cảnh, cƣ trú của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam này 28/4/2000 và Điều 1 Nghị định 54/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ hƣớng dẫn về việc thi hành hình phạt trục xuất thì khái niệm ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hiểu là "người không có quốc tịch Việt Nam". Từ khái niệm này có thể hiểu ngƣời nƣớc ngoài là ngƣời mang quốc tịch của nƣớc khác hoặc là ngƣời không mang quốc tịch của bất cứ nƣớc nào. Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: "Nhà nƣớc Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch Việt Nam, trừ trƣờng hợp Luật này có quy định khác", khoản 4 Điều 5 của Luật này lại quy định: "Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nƣớc ngoài đang định cƣ ở nƣớc ngoài đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan".
Vậy nên có thể có công dân Việt Nam mang hai quốc tịch. Đối với ngƣời Việt Nam vừa mang quốc tịch Việt Nam, vừa mang quốc tịch nƣớc ngoài, nếu phạm tội tại Việt Nam thì về nguyên tắc các Tòa án không đƣợc áp dụng hình phạt trục xuất đối với họ [55, tr. Mặc dù luật quy định hình phạt trục xuất đƣợc áp dụng đối với bất kỳ hành vi phạm tội nào, tuy nhiên, trên thực tế xét xử các vụ án liên quan đến việc trục xuất ngƣời nƣớc ngoài phạm tội, không phải ngƣời nƣớc ngoài nào TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vi phạm pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam đều bị áp dụng hình phạt trục xuất này, mà Tòa án phải căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và các yếu tố khác liên quan đến quan hệ ngoại giao, lãnh sự… để áp dụng khi cần thiết. Để đƣa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác về nội dung, nhất quán về mặt pháp lý, thống nhất về mặt ngôn từ, đồng thời xét đến tính phù hợp với thực tiễn xét xử và chính sách nhân đạo của Nhà nƣớc, theo chúng tôi, khái niệm hình phạt trục xuất phải bao gồm đƣợc các nội dung nhƣ: thứ nhất, bản chất pháp lý của hình phạt trục xuất; thứ hai, cơ quan có thẩm quyền áp dụng, thứ ba, đối tƣợng bị áp dụng, thứ tư, căn cứ và điều kiện áp dụng.
Do đó, trên cơ sở xem xét các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật có liên quan, dƣới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm hình phạt trục xuất có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Hình phạt trục xuất là một trong các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Bộ luật hình sự Việt Nam quy định, được Tòa án áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bị buộc phải rời Việt Nam trong thời gian nhất định. Hình phạt trục xuất được áp dụng với tư cách vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nước ngoài, đặc biệt là tội phạm quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia; bảo vệ trật tự xã hội và độc lập, chủ quyền dân tộc. Nhƣ vậy, từ khái niệm khoa học về hình phạt trục xuất nêu trên, theo chúng tôi bản chất pháp lý của hình phạt này là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước đối với các đối tượng là người nước ngoài phạm tội và buộc họ phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn nhất định. Hình phạt trục xuất không chỉ nhằm mục đích trừng trị, giáo dục ngƣời phạm tội mà còn nhằm ngăn chặn các hành động có nguy cơ ảnh hƣởng đến an ninh, chủ quyền dân tộc.