CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NCTN PHẠM TỘI 1. Khái niệm NCTN phạm tội. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, không phải từ khi sinh ra con người đã có nhận thức đầy đủ về tự nhiên, xã hội và về chính mình.
Khả năng nhận thức được những đòi hỏi của xã hội không tồn tại một cách bẩm sinh mà là kết quả của quá trình sống, quá trình hoạt động giao tiếp trong môi trường xã hội trong một thời gian nhất định. Khi khả năng nhận thức những đòi hỏi của con người đạt đến một giới hạn nhất định thì họ mới hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong đời sống xã hội, mới thấy được những đòi hỏi của xã hội đối với họ và từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành vi mà mình đã thực hiện. Tuy nhiên, ở mỗi một quốc gia, do những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau, nên pháp luật cũng quy định độ tuổi đạt được mức độ nhân thức đầy đủ khác nhau. Ở Việt Nam, người được coi là có nhận thức đầy đủ là người từ 18 tuổi trở lên và người dưới 18 tuổi- hay còn gọi là người chưa thành niên (NCTN) là “người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ” [42].
Điều này được ghi nhận thống nhất trong các ngành luật. Điều 18 Bộ luật dân sự Việt nam năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”. Bộ luật lao động Việt nam cũng quy định: “Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”… Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ NCTN được sử dụng dưới hai góc độ vừa là chủ thể của tội phạm vừa là đối tượng tác động của tội phạm.
Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm, độ tuổi của NCTN phạm tội được giới hạn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hẹp hơn so với độ tuổi của NCTN trong các ngành luật khác, đó là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi. Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 (BLHS năm 1999) quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”. Như vậy, nhưng NCTN chưa đủ 14 tuổi là người không đủ năng lực trách nhiệm hình sự vì ở độ tuổi này, trí tuệ của họ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ để hành động nên họ không bị coi là người có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện. Tuy nhiên, điều 12 BLHS 1999 cũng có sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong lứa tuổi NCTN: “ 1.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý. Cơ sở của việc miễn giảm này là xuất phát từ việc NCTN ở độ tuổi này do khả năng nhận thức xã hội còn non nớt, bồng bột, khả năng điều khiển hành vi còn hạn chế bởi vậy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Đối với NCTN từ đủ 16 tuổi cho đến dưới 18 tuổi thì do đã có đủ khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội và điều khiển hành vi của mình nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình thực hiện.
Để xác định trách nhiệm hình sự của NCTN thì phải xác định được họ đã thực hiện một trong những hành vi tội phạm được mô tả trong BLHS. Điều 8 BLHS định nghĩa tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện một cách cố ý và vô ý. Như vậy để xác định một người nào đó phải chịu trách nhiệm hình sự thì phải xác định đủ các yếu tố sau: (1) Sự việc xảy ra có đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm được quy định trong BLHS; (2) Người thực hiện hành vi phạm tội đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự; (3) Sự việc xảy ra do lỗi của người đó. Tóm lại, trên cơ sở các lập luận trên, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về NCTN phạm tội như sau: “NCTN phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm” [6, tr.
Những đặc điểm đặc thù trong TNHS của NCTN phạm tội. Trong khoa học pháp lý hình sự của Việt nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm TNHS. Có quan điểm cho rằng, TNHS là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước” [37, tr. Hoặc có tác giả cho rằng, TNHS là “một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” [24, tr.
TSKH, PGS Lê Cảm viết: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định”[7, tr. Từ các khái niệm này, có thể đưa ra các đặc điểm của TNHS như sau: (1) TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội; (2) TNHS luôn luôn được thực hiện trong phạm vi quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là Nhà nước và một bên là người phạm tội (3) TNHS được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quy định; (4) TNHS chỉ được thực hiện trong bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định; (5) TNHS chỉ mang tính chất cá nhân- người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật hình sự quy định [7, tr. Đối với NCTN phạm tội, là người có những đặc điểm tâm sinh lý chưa phát triển đầy đủ nên ngoài các đặc điểm TNHS ở trên, TNHS của NCTN phạm tội còn có những đặc thù riêng, thể hiện ở những điểm sau: - TNHS của NCTN phạm tội có tính chất giảm nhẹ hơn so với người phạm tội đã thành niên. Xuất phát từ quan điểm NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần do vậy rất dễ bị tác động của điều kiện ngoại cảnh, luật hình sự không chỉ coi NCTN phạm tội là đối tượng cần phải trừng trị mà còn là nạn nhân của môi trường xã hội không lành mạnh.
Chính vì vậy, khi truy cứu TNHS đối với đối tượng này cần phải xem xét, cân nhắc trong mối quan hệ hai mặt: họ vừa là chủ thể của hành vi phạm tội vừa là nạn nhân của môi trường xã hội không lành mạnh. Do vây, việc xem xét TNHS đối với họ luôn phải đặt trong mối quan hệ với trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục với NCTN-đối tượng đặc biệt của xã hội. Vì vậy, TNHS của họ được pháp luật hình sự quy định có tính chất giảm nhẹ hơn so với người đã thành niên, tính giảm nhẹ đó được thể hiện ở chỗ: + Điều kiện áp dụng đối với các chế định ở phần chung của BLHS đối với NCTN phạm tội thường là thấp hơn so với điều kiện áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội (Giảm mức hình phạt đã tuyên, xoá án tích…) + Về hình phạt: BLHS năm 1999 quy định không xử phạt tù chung thân, tử hình đối với NCTN phạm tội. Khi phạt tù có thời hạn thì NCTN được hưởng mức phạt tù nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng; không áp dụng hình phạt tiền đối với NCTN dưới 16 tuổi; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với NCTN phạm tội; án đã tuyên đối với NCTN phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Ngoài ra, BLHS cũng quy định các biện pháp tư pháp khác có tính chất giáo dục phòng ngừa được áp dụng riêng đối với NCTN như: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng. - Việc áp dụng TNHS đối với NCTN phạm tội được tiến hành theo thủ tục đặc biệt. Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn coi NCTN là đối tượng đặc biệt cần bảo vệ ngay cả khi họ là chủ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, các quy định về thủ tục tố tụng đối với đối tượng này cũng có những điểm khác biệt so với thủ tục tố tụng hình sự áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội.