Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT CẢNH CÁO THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HÌNH PHẠT CẢNH CÁO THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm hình phạt và mục đích của hình phạt Trong tất cả những phƣơng thức đấu tranh phòng, chống tội phạm thì việc áp dụng hình phạt với ngƣời phạm tội là phƣơng thức chủ yếu và có lịch sử lâu đời nhất. Hình phạt là một phạm trù pháp lý - xã hội phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nƣớc và pháp luật, vì thế "hình phạt" đƣợc nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau từ triết học, giáo dục học, đạo đức học, tâm lý học đến tội phạm học, điều tra hình sự nhƣng đặc biệt là dƣới góc độ khoa học luật hình sự; v.
Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, tội phạm và hình phạt thuộc những đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất, trong đó việc làm sáng tỏ khái niệm hình phạt là một vấn đề hết sức cần thiết. Trong lịch sử nhân loại có những quan niệm khác nhau về bản chất và nội dung của hình phạt. Nhìn chung, các quan điểm đó có thể đƣợc chia thành hai loại: 1) Quan niệm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù ngƣời phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều răn cho ngƣời phạm tội; 2) Quan niệm thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục ngƣời phạm tội [22, tr. Quan điểm coi hình phạt là sự trả thù của Nhà nƣớc dựa theo học thuyết trừng trị (Vergeltungstheorie) hay còn gọi là học thuyết hình phạt tuyệt đối (Absolute Straftheorie) do Immanuel Kant (1724-1804) và sau đó là Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) chủ trƣơng.
Trong tác phẩm 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com "Luân lý siêu hình", I. Kant cho rằng, sự bất công do hành vi của ngƣời phạm tội gây ra phải đƣợc đền bù bằng hình phạt, thông qua đó trật tự pháp luật bị xâm phạm đƣợc khôi phục. Việc áp dụng hình phạt nhằm bảo đảm công lý, công bằng. Kant đòi phải "thực hiện nguyên tắc "ân oán ngang bằng": Đối với tội giết ngƣời phải tử hình, đối với tội hiếp dâm-cần thiến kẻ hiếp dâm, tội làm nhục - cần công khai hôn tay ngƣời bị làm nhục v.
Nhƣ vậy, cơ sở pháp lý và ý nghĩa của hình phạt theo học thuyết hình phạt tuyệt đối, chỉ nằm ở sự trừng trị, trả thù, có nghĩa là bằng việc áp dụng hình phạt, sự bất công mà ngƣời phạm tội đã có lỗi gây ra đƣợc đền bù công bằng. Ngƣời phạm tội là ngƣời làm điều ác, mang nợ đối với xã hội nên cần phải trả bằng hình phạt, họ là kẻ thù của xã hội chứ không phải là thành viên của xã hội, vì vậy, hình phạt chỉ có mục đích tự thân trừng trị, trả thù, chứ tuyệt đối không có mục đích phòng ngừa tội phạm. Theo tiến trình phát triển của xã hội, bên cạnh các học thuyết trừng trị hay là học thuyết hình phạt tuyệt đối xuất hiện các học thuyết về phòng ngừa tội phạm hay còn gọi là học thuyết hình phạt tƣơng đối (relative Straftheorien) do Cesare Beccaria (1738-1794) khởi xƣớng, sau đó là Jeremy Bentham (1748-1832), P. Theo học thuyết này, hình phạt không hƣớng vào việc trả thù ngƣời phạm tội mà chỉ nhằm phòng ngừa tội phạm trong tƣơng lai.
Do không có học thuyết nào là phù hợp, vƣợt trội để biện minh cho sự tồn tại của hình phạt, nên có nhiều học giả đã hợp nhất hai loại học thuyết trên thành học thuyết liên hợp (Vereinigungstheorie), mà những ngƣời đại diện xuất sắc là A. Theo học thuyết này, hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm [68, tr. Với nhận thức về cơ sở pháp lý và ý nghĩa của hình phạt nhƣ trên, nên trong khoa học luật hình sự nƣớc ngoài có những định nghĩa về khái niệm hình phạt nhƣ: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình phạt là sự trừng trị đƣợc luật quy định để phòng ngừa và trấn áp hành vi cấu thành tội phạm gây tổn hại đến trật tự xã hội.; sự trừng trị buộc ngƣời phạm tội phải chịu trong lĩnh vực hình sự thuộc quyền của Thẩm phán hình sự, chiểu theo quy định của pháp luật.; Hình phạt là sự đền bù của hành vi trái pháp luật nghiêm trọng bằng việc trừng trị các điều ác đƣợc làm thích ứng với mức độ của sự bất công và lỗi. Nó là sự khiển trách công khai hành vi trái pháp luật, qua đó khôi phục lại công lý.
Ngoài ra, hình phạt cần phải mở rộng sự tác động tích cực vào ngƣời phạm tội. Còn trong khoa học luật hình sự Liên Xô trƣớc đây và Liên bang Nga ngày nay có các quan điểm coi hình phạt hoặc là biện pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc do Tòa án nhân danh Nhà nƣớc áp dụng đối với ngƣời có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhằm mục đích ngăn ngừa chung và ngăn ngừa riêng (Natasev A.); hoặc là sự trừng trị, tức là gây cho ngƣời có tội những sự đau đớn và những sự tƣớc đoạt do luật định mà ngƣời đó phải chịu (Đementrev X.I); hoặc là một trong các biện pháp đấu tranh chống tội phạm mà nội dung của nó là kết hợp thuyết phục với cƣỡng chế (Karpetx) [9, tr. Còn trong khoa học luật hình sự Việt Nam, các học giả luôn đi theo tƣ tƣởng tiến bộ, nhân đạo về hình phạt, nên đã đƣa ra những quan niệm về hình phạt mà về cơ bản là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định, chẳng hạn nhƣ: Theo GS. Lê Văn Cảm: "Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc đƣợc quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tƣớc bỏ hay hạn chế quyền, tự do của ngƣời bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự" [3, tr.
Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa: 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc nghiêm khắc nhất đƣợc quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính ngƣời đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng nhƣ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [26, tr. Hay theo GS.TS Võ Khánh Vinh lại quan niệm: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định đƣợc Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nƣớc quyết định trong bản án đối với ngƣời có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và đƣợc thể hiện ở việc tƣớc đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với ngƣời bị kết án [87, tr. Trịnh Quốc Toản viết: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc của Nhà nƣớc, đƣợc luật quy định, do tòa án nhân danh nhà nƣớc áp dụng đối với ngƣời phạm tội và đƣợc thể hiện ở việc tƣớc bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho luật hình sự thực hiện đƣợc nhiệm vụ bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm [68, tr. Phạm Văn Beo lại quan niệm rộng và chƣa thật chuẩn xác khi cho rằng hình phạt áp dụng với "ngƣời phạm tội", đồng thời sử dụng ngôn ngữ "nói", cũng nhƣ chƣa thể hiện hình phạt là biện pháp cƣỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc, do Tòa án tƣớc bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do hoặc lợi ích khác, khi tác giả viết: Hình phạt là sự mất mát một quyền hoặc lợi ích nhất định đƣợc áp dụng đối với ngƣời phạm tội về chính hành vi phạm tội của anh ta.
Ngƣời phạm tội ở đây đƣợc hiểu là ngƣời mà theo luật hình sự phải gánh chịu hình phạt. Hình phạt đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định và đƣợc đảm bảo thực hiện bằng sự cƣỡng chế cao nhất của Nhà nƣớc [2, tr. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Còn dƣới góc độ lập pháp, lần đầu tiên trong Bộ luật hình sự năm 1999, các nhà làm luật Việt Nam đã ghi nhận định nghĩa pháp lý về khái niệm hình phạt tại Điều 26 nhƣ sau: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định".
Nhƣ vậy, trong khoa học luật hình sự Việt Nam và nƣớc ngoài, cũng nhƣ trong luật thực định, đã đƣa ra các định nghĩa khác nhau về khái niệm hình phạt và hầu nhƣ mỗi định nghĩa trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý, mỗi định nghĩa đã chỉ ra một cách tƣơng đối rõ ràng hoặc là về một hoặc nhiều khía cạnh cơ bản của hình phạt. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm của các học giả trong và ngoài nƣớc về khái niệm hình phạt và phân tích tính chất, đặc điểm, nội dung của hình phạt, theo chúng tôi định nghĩa về khái niệm hình phạt nhƣ sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với chính người đã thực hiện hành vi phạm tội, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền, tự do của người bị kết án hoặc đặt ra những nghĩa vụ pháp lý nhất định đối với họ theo quy định của pháp luật hình sự. Khái niệm hình phạt cảnh cáo Hình phạt cảnh cáo theo quy định của luật hình sự Việt Nam thể hiện quan điểm nhân đạo và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với ngƣời phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời chứng tỏ khả năng tự giáo dục, cải tạo trở thành ngƣời có ích cho xã hội. Hình phạt cảnh cáo còn là một trong những biện pháp đƣợc tòa án áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, giáo dục, cải tạo ngƣời phạm tội nên hình phạt cảnh cáo cần phải đƣợc quan tâm một cách sâu sắc trên các phƣơng diện lập pháp, áp dụng pháp luật và nghiên cứu lý luận nhƣng cho đến nay hình phạt cảnh cáo vẫn chƣa đƣợc quan tâm một cách đúng mức trên cả ba phƣơng diện này.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Đại từ điển Tiếng Việt, động từ "cảnh" đƣợc hiểu là "làm cho người ta chú ý" [92, tr.