Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ * Khái niệm hình phạt Trong lĩnh vực khoa học hình sự, tội phạm và hình phạt thuộc những đối tượng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất, trong đó việc làm sáng tỏ khái niệm hình phạt là một vấn đề hết sức quan trọng. Để có cái nhìn toàn diện về hình phạt cải tạo không giam giữ, những vấn đề lý luận và thực tiễn, trước hết chúng ta cần xem xét một cách tổng thể lý luận về hình phạt.
Trong lịch sử nhân loại có những quan niệm khác nhau về bản chất và nội dung của hình phạt. Nhìn chung các quan điểm đó có thể được chia thành hai loại: 1) Quan điểm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của tội phạm làm điều răn cho người phạm tội; 2) Quan niệm thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội [15, tr. Về vấn đề này, trong cuốn Sách chuyên khảo "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, PGS. Trịnh Quốc Toản đã tổng kết như sau: Quan điểm coi hình phạt là sự trả thù của Nhà nước dựa theo học thuyết trừng trị (Vergeltungstheorie) hay còn gọi là học thuyết hình phạt tuyệt đối (Ab solut Straftheorie do Imanuel Kant (1724-1804) và sau đó là Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) chủ trương.
Trong tác phẩm "Lý luận siêu hình", I. Kant cho rằng, sự bất công do hành vi của người phạm tội gây ra 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải được đền bù bằng hình phạt, thông qua đó trật tự pháp luật bị xâm phạm được khôi phục. Việc áp dụng hình phạt nhằm bảo đảm công công lý, công bằng. Kant đòi hỏi phải thực hiện nguyên tắc "ân oán ngang bằng": Đối với tội giết người phải tử hình, đối với tội hiếp dâm cần thiến kẻ hiếp dâm, tội làm nhục cần công khai hôn tay người bị làm nhục [45, tr.
Như vậy, cơ sở pháp lý và ý nghĩa của hình phạt theo học thuyết hình phạt tuyệt đối, chỉ nằm ở sự trừng trị, trả thù, có nghĩa là bằng việc áp dụng hình phạt thì bất công mà người phạm tội có lỗi gây ra được đền bù công bằng. Người phạm tội là người làm điều ác, mang nợ đối với xã hội nên cần phải trả bằng hình phạt, họ là kẻ thù của xã hội chứ không phải là thành viên của xã hội, vì vậy, hình phạt chỉ có mục đích tự thân là trừng trị, trả thù, chứ tuyệt đối không có mục đích phòng ngừa tội phạm. Như vậy, bên cạnh học thuyết hình phạt tuyệt đối xuất hiện các học thuyết về phòng ngừa tội phạm hay còn gọi là các học thuyết hình phạt tương đối (Relative Straftheorien) do Cesare Beccaria (1738-1794) khởi xướng, sau đó là Jeremy Bentham (1748-1832), P. Theo các học thuyết này, hình phạt không hướng vào việc trả thù người phạm tội mà chỉ nhằm phòng ngừa tội phạm trong tương lai.
Do không có học thuyết nào là phù hợp vượt trội để biện minh cho sự tồn tại của hình phạt, nên có học giả đã hợp nhất hai học thuyết trên thành học thuyết liên hợp (Vereinigungstheorie), mà những người đại diện xuất sắc là A. Theo học thuyết này, thì hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm [39, tr. Với nhận thức về cơ sở pháp lý và ý nghĩa của hình phạt như trên, nên trong khoa học luật hình sự nước ngoài có những khái niệm về hình phạt như: Coi hình phạt là sự trừng trị được luật quy định để phòng ngừa và trấn áp hành vi cấu thành tội phạm gây tổn hại đến trật tự xã hội.; coi hình phạt là sự đền bù của hành vi trái pháp luật nghiêm trọng bằng việc trừng trị các điều ác được làm thích ứng với mức độ của sự bất công và lỗi. Nó là sự khiển trách 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công khai hành vi trái pháp luật, qua đó khôi phục lại công lý, ngoài ra hình phạt cần phải mở rộng sự tác động tích cực vào người phạm tội.
Hay trong khoa học luật hình sự rất phát triển là Liên Xô trước đây và Liên bang Nga, theo GS. Lê Văn Cảm tổng kết, ngày nay có các quan điểm coi hình phạt hoặc là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhằm mục đích ngăn ngừa chung và ngăn ngừa riêng (Natasev A. Hoặc là sự trừng trị, tức là gây cho người có tội những đau đớn và những sự tước đoạt do luật định mà người đó phải chịu (Đementrev X. Hoặc là một trong các biện pháp đấu tranh chống tội phạm mà nội dung của nó là kết hợp thuyết phục với cưỡng chế (Karpetx) [40, tr.
Còn trong khoa học luật hình Việt Nam, các học giả luôn đi theo tư tưởng tiến bộ, nhân đạo và hướng thiện về hình phạt, nên đã đưa ra những quan niệm về hình phạt mà về cơ bản là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định, như: GS. Lê Văn Cảm quan niệm: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự" [2, tr. Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của của công dân [18, tr. Trịnh Quốc Toản trên cơ sở phân tích nhiều quan điểm khoa học và các đặc điểm cơ bản của hình phạt đã định nghĩa: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được luật quy định, do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm [40, tr.
Còn dưới góc độ lập pháp hình sự, lần đầu tiên trong Bộ luật hình sự năm 1999 các nhà làm luật đã ghi nhận định nghĩa pháp lý về khái niệm hình phạt tại Điều 26 như sau: "Hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định" [31]. Như vậy, trong khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài, cũng như trong luật thực định đã đưa ra các định nghĩa khác về khái niệm hình phạt, và hầu như mỗi định nghĩa đều có những hạt nhân hợp lý, đều chỉ ra một cách tương đối rõ ràng về một hoặc nhiều khía cạnh cơ bản của hình phạt. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm của các học giả trong và ngoài nước về khái niệm hình phạt, theo chúng tôi định nghĩa về khái niệm hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án, để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người đó, qua đó nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm.
* Mục đích của hình phạt Từ trước đến nay khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt trong khoa học luật hình sự, các mục đích của hình phạt là vấn đề gây tranh luận nhiều nhất giữa các nhà khoa học - thực tiễn trong và ngoài nước như: hình phạt có mục đích trừng trị hay mục đích giáo dục hoặc cả hai; hình phạt ngoài hai mục đích đó còn mục đích khác không; trừng trị là thuộc tính hay mục đích của hình phạt; v. Tuy nhiên, về mặt lập pháp, Bộ luật hình sự 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam năm 1985 và 1999 đã thể hiện quan điểm chính thức của Nhà nước về mục đích hình phạt, cụ thể: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 27 Bộ luật hình sự). Như vậy, khi phân tích Điều 27 Bộ luật hình sự Việt Nam, nhiều người cho rằng Bộ luật hình sự đã quy định mục đích "trừng trị" của hình phạt là điều không thể phủ nhận.
Tuy vậy, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự và dưới góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền thì trừng trị không phải là mục đích của hình phạt mà chỉ là bản chất chủ yếu và là thuộc tính cơ bản nhất của hình phạt, vì nếu như không có yếu tố trừng trị mà chỉ có yếu tố giáo dục đơn, thì hình phạt nói riêng sẽ mất đi nội dung của nó - không cần thiết và do đó, luật hình sự nói cũng sẽ trở nên vô nghĩa [7, tr. Tóm lại, theo quan điểm của chúng tôi, mục đích của hình phạt bao gồm hai mục đích chính như sau: Một là, mục đích phòng ngừa riêng trước hết được thể hiện ở chỗ hình phạt áp dụng đối với người phạm tội không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Nội dung cơ bản của mục đích này chính là sự tước bỏ, hạn chế những quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật hình sự đối với người bị áp dụng hình phạt, vì hình phạt trước hết thể hiện sự lên án, sự phạt của Nhà Nước, của xã hội đối với người phạm tội.