CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CÁCH THỂ HIỆN NỘI DUNG TIKTOKER TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1. Cơ sở lý luận về lý thuyết khung và cách thể hiện nội dung TikToker trên báo điện tử 1. Lý thuyết đóng khung trong nghiên cứu báo chí Các khái niệm về khung Lý thuyết đóng khung ra đời từ mục tiêu chọn lọc thông tin, góp phần phát triển thực hành truyền thông, mang tính xây dựng trong lĩnh vực nghiên cứu. Đây là một đặc tính không chỉ có ở báo chí hay truyền thông đại chúng mà áp dụng cho truyền thông nói chung (Christian Baden, 2020).
Bởi vì trong truyền thông, không thể truyền đạt tất cả các khía cạnh của một tình huống, sự kiện, vấn đề hoặc ý tưởng cho dù bằng bất kỳ hình thức giao tiếp nào, một thông điệp nào đó chắc chắn sẽ được chú ý ở một số khía cạnh và bị bỏ qua những khía cạnh khác (Entman, 1993). Từ đó lý thuyết khung cho rằng việc lựa chọn cụ thể các khía cạnh được truyền đạt sẽ có ý nghĩa quan trọng vì nó dẫn dắt người tiếp nhận xây dựng các khung khác nhau để nhận được các ý nghĩa khác nhau (Price & Tewksbury, 1997; Terkildsen và Schnell 1997; Moy, Tewksbury & Rinke, 2016; Baden, 2020). Erving Goffman - một nhà xã hội học được xem là cha đẻ của nghiên cứu về khung (Baden, 2020) lập luận rằng tất cả chúng ta đều cố gắng phân loại, hệ thống và diễn giải những sự kiện, diễn biến trong cuộc sống của mình để hiểu những sự kiện, diễn biến đó. “Khung” chính là những giản đồ của sự diễn giải cho phép con người “xác định, tiếp nhận, định dạng, dán nhãn cho vô số những diễn biến trong cuộc sống của họ”.
Gitlin (1980) định nghĩa các khung là "lựa chọn liên tục, nhấn mạnh và loại trừ”. Ông cho rằng việc lập ra “khung” trong sản xuất diễn ngôn tin tức cho phép nhà báo xử lý một lượng lớn thông tin nhanh chóng và thường xuyên để chuyển đến công chúng một quả hiệu quả (Gitlin, 1980). Tin tức cho chúng ta biết về một thế giới 15 đã được “đóng gói”. Khung là “ý nghĩa cốt lõi” của thế giới đã được đóng gói này, giúp giải nghĩa về các sự kiện liên quan, cũng như gợi ý xem đâu mới là vấn đề cần xem xét.
Nói cách khác, các khung giúp chuyển các khối lượng nội dung phức tạp thành các danh mục mạch lạc, dễ hiểu bằng cách lọc nhận thức của mọi người (Kaufman, Elliott & Shmueli, 2013). Chủ đề là một ý tưởng kết nối các yếu tố ngữ nghĩa khác nhau của một câu chuyện tạo thành một câu chuyện mạch lạc. Mà ý nghĩa dự định của một câu chuyện tin tức có khả năng hướng sự chú ý cũng như hạn chế những góc nhìn có sẵn của khán giả (Hall, 1980; Tuchman, 1978). Vì chức năng cấu trúc này nên một chủ đề còn được gọi là khung.
Các yếu tố biểu thị của một chủ đề là các lựa chọn từ vựng được định vị theo cấu trúc, hoạt động như những thiết bị đóng khung, các thiết bị tạo khung trong diễn ngôn tin tức có thể được phân thành bốn loại, đại diện cho bốn chiều cấu trúc của diễn ngôn tin tức: cấu trúc cú pháp, cấu trúc chữ viết, cấu trúc chủ đề và cấu trúc tu từ. Tại sao con người cần đến sự đóng khung? Khung là “lối tắt” nhận thức để giúp chúng ta hiểu các thông tin phức tạp. Sự đóng khung giúp chúng ta diễn giải những gì diễn ra xung quanh và tường thuật lại cho những người khác. Khung giúp chúng ta đơn giản hoá các hiện tượng, sự việc phức tạp trở nên mạch lạc, dễ hiểu.
Khi chúng ta gán ý nghĩa cho một số khía cạnh của sự việc đồng thời loại bỏ các khía cạnh khác vì chúng có vẻ không liên quan hoặc phản trực giác thì các khung sẽ cung cấp ý nghĩa có chọn lọc, “lọc” nhận thức của mọi người và cung cấp cho họ một hướng nhìn về một vấn đề nào đó. 16 Hầu hết các nghiên cứu về sự đóng khung tin tức đều xem xét mối liên kết trong việc diễn giải vấn đề. Chúng có thể thúc đẩy công chúng mô tả vấn đề ở phần bình luận theo cách đóng khung họ đã tiếp nhận (Price, Tewksbury, & Powers, 1997) cũng có thể ảnh hưởng đến cách mọi người nghĩ về một vấn đề, ảnh hưởng đến cả những gì họ tin và cho là quan trọng nhất liên quan đến vấn đề đó (Brewer, 2002; Shen, 2004). Đối với tin tức về các vấn đề đang nổi lên hoặc một sự kiện vừa xảy ra, nếu người nhận tin tức không có sẵn các liên kết về vấn đề và các cân nhắc, đánh giá về nó thì việc đóng khung tin tức sẽ giúp người đọc xác định cách để hiểu vấn đề (Tewksbury, Jones, Peske, Raymond & Vig, 2000).
Khung cũng có thể tạo ra mối liên kết giữa các vấn đề quen thuộc với niềm tin, giá trị và thái độ sẵn có. Trong trường hợp này, khung gợi ý cho khán giả rằng họ suy nghĩ về một vấn đề theo một cách mới lạ nào đó. Có rất nhiều nghiên cứu đóng khung từ khoa học chính trị, truyền thông xã hội, tâm lý học, hành vi thương mại… Thông qua nghiên cứu khía cạnh hiệu ứng khung, lý thuyết đóng khung đã mở rộng nhân sinh quan và thế giới quan của khoa học nghiên cứu ít nhiều. Trong những thập kỷ gần đây, nghiên cứu đóng khung ngày càng phát triển, có những đóng góp về mặt ý nghĩa trên các lĩnh vực xã hội và ngành khoa học khác nhau (Matthes, 2011).
Được xây dựng dựa trên một tài liệu ấn tượng và một loạt các hiểu biết quan trọng về các cơ chế tâm lý, xã hội học, văn hóa, chính trị và giao tiếp liên quan, lý thuyết đóng khung đã bắt đầu phát triển tiếp tục từ nghiên cứu chuyên đề của Gaye Tuchman (1978) đã bỏ dở cách đây 40 năm (Baden, 2020). Quy trình tạo khung Các quan niệm từ nhiều ngành khác nhau chỉ ra rằng các khung có chức năng vừa là "cấu trúc bên trong của tâm trí" vừa là "thiết bị gắn liền với diễn ngôn chính trị" (Kinder & Sanders, 1990). Cụ thể, chúng ta có thể hình dung một khung như một “thiết bị nhận thức” để mã hóa, giải thích và truy xuất thông tin, nó có thể truyền đạt được và 17 liên quan đến các thói quen và nguyên tắc nghề nghiệp báo chí. Vì vậy việc lập khung như một chiến lược xây dựng và xử lý diễn ngôn tin tức hoặc như một đặc điểm của diễn ngôn.
Quy trình đóng khung đề cập đến quá trình mọi người phát triển một khái niệm cụ thể về một vấn đề hoặc định hướng lại suy nghĩ của họ về một vấn đề nào đó (Chong & Druckman, 2007). Goffman (1974) cho rằng các cụm từ và từ được chọn có thể ảnh hưởng đến ngữ cảnh diễn giải cho người đọc hoặc người xem nội dung. Cùng một loại thông tin có thể được sắp xếp theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào cách nó được đóng khung. Cách thức và hoàn cảnh trình bày một sự việc có thể thay đổi ý nghĩa của nó, ảnh hưởng đến sở thích của người nghe hoặc người xem.
Nói cách khác, ý nghĩa của ngôn ngữ có thể bị ảnh hưởng bởi cách đóng khung cho nó. Ví dụ các khung hình tích cực để mô tả điều gì đó và gán cho nó một “thuộc tính” tích cực có thể khiến người xem cũng mô tả nó là tích cực và thành công. Do đó, các khung tiêu cực sẽ được đưa ra để “khuyến cáo ngầm” về điều gì đó không tốt (Sher & McKenzie, 2006). Hơn nữa, thông tin được người nhận tiếp thu và có khả năng tăng tính tích cực nếu họ thường xuyên tiếp xúc với thông tin đó (Sher & McKenzie, 2006).
Vì vậy các khung chịu trách nhiệm cho sự hiểu biết của mọi người về thế giới, về các thông điệp mà nó tạo ra (Goffman, 1974). Trong nghiên cứu truyền thông, lý thuyết đóng khung vẫn là một khái niệm chưa được xác định rõ ràng (Entman, 1993; Scheufele, 1999; cf. Tuy nhiên, một trích dẫn được sử dụng rộng rãi: “Đóng khung là chọn một số khía cạnh trong nhận thức thực tế và làm chúng nổi bật hơn trong một văn bản giao tiếp, theo cách thúc đẩy việc định nghĩa hoặc khái quát hoá một vấn đề cụ thể, giải thích nguyên nhân, đánh giá đạo đức, đề xuất cách xử lý vấn đề” (Entman, 1993, tr. Entman (1993) nói rằng một khung khuyến khích khán giả tạo ra các mối liên hệ giữa một vấn đề và có những cân nhắc cụ thể liên quan đến định nghĩa, nguyên nhân, hàm ý và cách xử lý nó.
Những khung hiệu quả nhất là những khung xây dựng được cả bốn mối liên kết trên, nhưng không phải mọi khung đều mạnh như vậy. Trong các nghiên cứu, bốn mối liên kết này 18 hiếm khi được xác định riêng lẻ, và hầu hết các nghiên cứu chú ý về định nghĩa và cách xử lý vấn đề (Tewksbury & Scheufele, 2009). Có năm phương tiện biểu thị việc sử dụng các khung hình: ẩn dụ, ví dụ, khẩu hiệu, miêu tả và hình ảnh trực quan (Gamson & Lasch, 1983; Gamson & Modigliani, 1989). Khung tin tức trong báo chí Việc tạo khung hầu như được áp dụng cho tất cả các hình thức truyền thông và được nghiên cứu trong nhiều bối cảnh và lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên việc tạo khung tin tức trong báo chí chiếm một vị trí quan trọng.
Lý do là vì một trong những chức năng chính của báo chí là đưa tin về các sự kiện mới lạ, có giá trị về mặt ý nghĩa cụ thể đối với cả cá nhân và cộng đồng, cũng cập nhật như các vấn đề khác mà công chúng quan tâm. Bằng cách lựa chọn thông tin đáng đưa tin và giải thích ý nghĩa cụ thể của tin tức, các nhà báo cũng là những người tạo khung. Việc đóng khung đã được mô tả như một khái niệm, một cách tiếp cận, một lý thuyết, một loại hiệu ứng truyền thông, một quan điểm, một kỹ thuật phân tích, một mô hình và một chương trình nghiên cứu đa mô hình (D'Angelo & Kuypers, 2010). Oosthuizen (2001) khẳng định tin tức không phải là sự phản ánh chân thực về thực tế.
Đây là mấu chốt của lý thuyết đóng khung. Oosthuizen cho biết thêm rằng tin tức nói đúng hơn như là một khung hoặc cửa sổ nhìn vào thực tế, nhằm tìm cách hoặc chỉ phản ánh một phần của thực tế này (được trích dẫn bởi Linström và Marais, 2012, tr. Qing (2000) giải thích quá trình đóng khung như sau: “Tin tức là sự thể hiện thế giới qua trung gian của nhà báo.