Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả xử lý nợ tại các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Chương 2: Thực trạng xử lý nợ xấu của Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động xử lý nợ xấu của Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam. 6 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ TẠI CÁC CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN 1.
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN 1. Khái niệm về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản 1. Khái niệm Hiện nay, mô hình AMC được sử dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới. Tại mỗi nước, tùy theo điều kiện kinh tế và chính sách phát triển mà công ty quản lý nợ có những tên gọi khác nhau, mô hình khác nhau, đặc trưng, quyền và nghĩa vụ khác nhau.
Một cách chung nhất có thể hiểu: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là một định chế có mục tiêu đặc biệt, có quyền và trách nhiệm đặc biệt trong việc thực hiện chức năng mua, quản lý các khoản nợ khó đòi từ hệ thống ngân hàng và xử lý các khoản nợ đó một cách tối ưu. Mục tiêu hoạt động Ngân hàng là trung gian tài chính đưa các dòng vốn dư thừa trong xã hội vào việc đầu tư cho các hoạt động kinh tế góp phần phát triển quốc gia. Nếu như các khoản cho vay đầu tư của ngân hàng không có hiệu quả tức là các chủ thể vay vốn hoạt động không hiệu quả thì sẽ không đủ khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ cho ngân hàng, từ đó hình thành nên các khoản nợ khó đòi. Đồng nghĩa với đó, năng lực tài chính của ngân hàng cũng bị suy giảm, ngân hàng đứng trước nhiều nguy cơ rủi ro lớn.
Khi đó, để củng cố lại hệ thống ngân hàng, các AMC sẽ mua, tiếp quản các khoản nợ khó đòi đó và xử lý chúng một cách hiệu quả nhất. Hoạt động của công ty này hướng tới việc làm sao để tối đa hóa giá trị các khoản nợ tồn đọng và giảm thiểu chi phí cho quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp. Chính vì vậy, với chức năng xử lý các khoản nợ xấu của các TCTD, AMC được thành lập nhằm mục tiêu phục hồi sức mạnh cho hệ thống ngân hàng. Quá trình hình thành các AMC Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều bước thăng trầm của hệ thống tài chính – ngân hàng thế giới đước thể hiện rất rõ nét qua các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và khu vực.
Các cuộc khủng hoảng đi qua đã để lại những hậu quả nặng nề đối với nền 7 kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Đó là sự suy yếu về năng lực tài chính, sự xáo trộn về bộ máy của cả nền kinh tế, đi cùng với đó là hình thành các khoản nợ khó đòi khổng lồ gây cản trở mạnh mẽ cho quá trình phục hồi hậu khủng hoảng. Có rất nhiều biện pháp để xử lý các khoản nợ khó đòi này. Nhưng để tiết kiệm được tối đa chi phí và tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng như cải tổ hệ thống ngân hàng có hiệu quả thì mô hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là một trong những giải pháp tối ưu.
Mô hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản lần đầu tiên được áp dụng tại Mỹ vào năm 1989. Vào quãng thời gian trước đó, một cuộc khủng hoảng các quỹ tiết kiệm và cho vay đã diễn ra ở Mỹ. Do ảnh hưởng mang tính hệ thống mà một số quỹ tiết kiệm quá lớn đóng cửa sẽ gây ra tác động tiêu cực lớn cho hệ thống kinh tế Mỹ nên Chính phủ Mỹ đã đưa ra giải pháp thành lập Công ty ủy thác xử lý tài sản (Resolution Trust Company), một loại hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Công ty này với tư cách là một cơ quan Trung ương đứng ra mua lại các khoản nợ khó đòi của các Quỹ tiết kiệm và sau đó tìm cách làm tối đa hóa khả năng thu hồi các khoản nợ này thông qua việc bán trên thị trường.
Giai đoạn 1992 – 1995, tiếp bước của Mỹ rất nhiều công ty quản lý tài sản cũng được thành lập ở các nước Châu Âu như Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển khi những nước này rơi vào tình trạng khủng hoảng ngân hàng với khối lượng lớn các khoản nợ xấu. Tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, để giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và phục hồi sau khủng hoảng, các công ty quản lý tài sản cũng được thành lập ở nhiều nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan. Vai trò của AMC 1. Đối với hệ thống Ngân hàng Việc thành lập AMC là một tất yếu khách quan đối với nền kinh tế thị trường khi gặp các vấn đề nghiêm trọng về nợ khó đòi.
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản 8 còn đóng vai trò quan trọng trong các chương trình quốc gia về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, lành mạnh hóa hệ thống tài chính và khôi phục hệ thống kinh tế. Đối với việc tham gia trong quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, AMC đóng vai trò chủ động, tích cực trong việc thúc đẩy phát triển khu vực ngân hàng thông qua xử lý các khoản nợ xấu, làm lành mạnh tình hình tài chính và nâng cao hoạt động của các ngân hàng. Ngoài ra, AMC còn được thành lập với mục đích để ngăn chặn khủng hoảng ngân hàng bằng cách cung cấp một cơ chế cho các ngân hàng yếu kém bán tài sản có vấn đề để lấy tiền hay giấy nhận nợ. Việc này giúp bơm tiền vào các ngân hàng, cải thiện khả năng thanh toán của ngân hàng, trợ giúp các ngân hàng yếu kém quay trở lại cách thức hoạt động cho vay thận trọng, làm cho các NHTM thoát khỏi gánh nặng xử lý các khoản cho vay có vấn đề, tùy thuộc vào tỷ lệ trích dự phòng ban đầu và giá trị bán tài sản thu được để hệ thống ngân hàng thu hồi được vốn tiếp tục vòng phục hồi các doanh nghiệp, ngăn ngừa các nguy cơ đổ vỡ cục bộ trong hệ thống.
Như vậy, bằng các biện pháp kỹ năng đặc biệt của mình trong việc xử lý các khoản nợ khó đòi, các AMC đã góp phần làm lành mạnh hóa hoạt động ngân hàng, góp phần cơ cấu lại hệ thống ngân hàng một cách hiệu quả. Đối với nền kinh tế Hệ thống ngân hàng và nền kinh tế có quan hệ biện chứng với nhau. Trong nền kinh tế, hệ thống tài chính – ngân hàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng, sự tăng trưởng hay suy yếu của nền kinh tế thể hiện qua sự hùng mạnh hay yếu kém của hệ thống tài chính – ngân hàng. Ngược lại, hệ thống ngân hàng giúp dẫn dắt, khơi thông các dòng tài chính trên thị trường giúp bôi trơn các hoạt động của nền kinh tế.
Do đó, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản giúp lành mạnh hóa và nâng cao hoạt động hệ thống ngân hàng cũng chính là góp phần phát triển các hoạt động của nền kinh tế. Nền kinh tế tăng trưởng bền vững, ổn định cũng chính là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư từ bên ngoài cũng như kích thích đầu tư trong nước để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học kỹ thuật, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế. Khi các khoản nợ khó đòi được các AMC xử lý, một phần vồn sẽ được thu hồi lại để đầu tư vào các dự án khả thi khác với khả năng sinh lợi tốt hơn. Xét trên góc độ cả 9 nền kinh tế, hoạt động của các AMC sẽ giúp đẩy nhanh quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý và hiệu quả.
Nguồn lực sẽ được tập trung vào những ngành, lĩnh vực có tiềm năng phát triển và đem lại lợi nhuận bền vững, tránh tình trạng bị sử dụng vốn một cách lãng phí, vốn bị đọng lại tại các dự án kém hiệu quả. Điều này giúp cải thiện vòng quay của vốn qua đó làm tăng thu nhập quốc dân, đời sống nhân dân cũng được nâng cao, xã hội ổn định. Tóm lại, hoạt động của các AMC thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn và hàng hóa trong nền kinh tế, giúp ổn định và lành mạnh hóa hệ thống tài chính – ngân hàng, giúp nâng cao uy tín, vị thế của quốc gia nói chung và các doanh nghiệp trong nước nói riêng trong cộng động kinh tế thế giới và khu vực. Các mô hình AMC Tùy thuộc vào điều kiện của từng nước, các AMC có thể được hình thành theo những cơ chế khác nhau.
Nhưng nhìn chung thì có thể phân ra thành 3 mô hình như sau: mô hình AMC tập trung, mô hình AMC phân tán và mô hình AMC hỗn hợp. Mô hình AMC phân tán Theo mô hình này thì các ngân hàng sẽ tự xử lý nợ xấu bằng việc thành lập ra các AMC hoặc bộ phận xử lý nợ riêng hoặc là các tư nhân đứng ra thành lập các công ty xử lý nợ. Và một điều đương nhiên là các AMC tư nhân này hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Với hình thức phân tán, các khoản nợ xấu vẫn nằm trên bảng cân đối của ngân hàng.
Ưu điểm của mô hình này là ít chịu sự chi phối trong quá trình ra quyết định, các công ty xử lý nợ không thuộc nhà nước thường linh hoạt hơn trong quá trình hoạt động. Hơn nữa, việc cơ cấu lại nợ cũng dễ dàng hơn nhiều do các ngân hàng có sẵn các hồ sơ liên quan về khoản nợ và con nợ. Tuy nhiên, các ngân hàng cũng có thể lợi dụng mô hình này sử dụng để che đậy các vấn đề về nợ xấu bằng cách chuyển hết nợ sang công ty xử lý nợ của mình ở các mức giá giả tạo cao hơn dẫn đến việc là do giá chuyển đổi cao sẽ ít hoặc không phản ánh các khoản thua lỗ của ngân hàng. Giải quyết nợ xấu qua mô hình AMC phân tán không thành công khi nợ xấu ở các AMC của ngân hàng tư nhân không được xử lý thậm chí mức an toàn vốn của các ngân hàng này phải duy trì ở đã tăng lên gấp đôi.
10 Điển hình cho việc áp dụng mô hình này là các quốc gia Thụy Điển, Trung Quốc và Ba Lan.