chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quát về lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng và pham vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như làm rõ kết cấu đề tài. LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM 2.1 Lý luận tổng quan về Nợ xấu tại các NHTM: 2.1 Khái niệm nợ xấu Thuật ngữ “nợ xấu” (NPL- Non-performing loans) có thể được thay thế bằng nợ khó đòi theo như Fofack (2005) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997). Nợ xấu cũng có thể được định nghĩa là các khoản nợ không trả được (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó ( Ernst & Young, 2004); hoặc nợ xấu là các khoản nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày ( Caprio và Klingebiel, 1996; Alton và Hazen, 2001; Guy, 2011; Bexley và Neninger, 2012). Theo quan điểm của Ngân hàng Trung Ƣơng Châu Âu (ECB) Theo quan điểm của ECB, thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: (i): khoản vay không có khả năng thu hồi, và (ii): mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi không đầy đủ.
Như vậy, quan điểm về nợ xấu của ECB được dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. Theo tổ chức tiền tệ quốc tế IMF Theo IMF, định nghĩa về nợ xấu được đưa ra : “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. (IMF, 2004) Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày (ii:) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng không đầy đủ. 8 Như vậy, so với quan điểm của ECB, thì quan điểm về nợ xấu của IMF cũng dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng, nhưng có bổ sung thêm yếu tố về thời gian quá hạn trả nợ. Đây được coi là định nghĩa hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Theo quan điểm của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam (SBV) Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).” Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Theo định nghĩa trên chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS, Nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại. Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới. Đúc kết từ các lý thuyết trên, ta có khái niệm về nợ xấu như sau: Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, đã quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của ngân hàng, điều này thường xảy ra khi người đi vay đã làm ăn thua lỗ liên tục, tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá ba tháng, căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm nợ thích hợp.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Do bản thân ngân hàng 9 - Ngân hàng không có đủ thông tin chính xác để phân tích và đánh giá khách hàng, dẫn đến việc thẩm định không chính xác phương án xin vay hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng. - Đạo đức nghề nghiệp không tốt và năng lực chuyên môn của một số cán bộ ngân hàng chưa theo kịp yêu cầu; tiêu cực trong khâu lập phương án, thẩm định, xét duyệt và theo dõi khoản vay. - Sự nới lỏng trong công tác thanh, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay làm cho ngân hàng không phát hiện những rủi ro và có biện pháp phòng ngừa kịp thời. - Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng gay gắt dẫn đến chạy theo qui mô, lợi nhuận trươc mắt mà bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay.
- Ngân hàng tăng trưởng nóng nhằm đảm bảo hiệu quả lợi nhuận trước áp lực tăng vốn mà xem nhẹ chất lượng tín dụng, quá tin vào phương án kinh doanh của khách hàng. Do bản thân ngƣời đi vay - Năng lực quản lý kinh doanh hạn chế; nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý; qui mô kinh doanh mở rộng vượt tầm tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến các phương án kinh doanh khả thi nhưng trên thực tế lại kém hiệu quả do thiếu năng lực quản lý. - Tình hình tài chính của doanh nghiệp không minh bạch, yếu kém. Qui mô vốn chủ sở hữu nhỏ, cơ cấu tài chính thiếu cân đối; công tác quản lý tài chính - kế toán tùy tiện, mang tính đối phó dẫn đến thông tin ngân hàng có được để đưa ra các phân tích tài chính, đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp là không chính xác, mang tính hình thức, không thực tế và rủi ro xảy ra là điều không tránh khỏi.
Nguyên nhân khách quan: - Những bất cập trong cơ chế quản lý nhà nước, để tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu kế hoạch hằng năm, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được ưu ái khi vay vốn 10 nhưng hoạt động không hiệu quả, có những dự án lớn được chỉnh phủ bảo lãnh vay vốn đầu tư, khi hoạt động bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng chi trả nợ vay ngân hàng. - Những nguyên nhân bất khả kháng khác như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh… 2.3 Hậu quả của nợ xấu đồi với ngân hàng và đối với nền kinh tế - Đối với ngân hàng: Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: nghiên cứu của Fofack (2005) đã chỉ ra rằng, nợ xấu tăng cao sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Khi xảy ra nợ xấu nghĩa là một phần vốn của ngân hàng không thu hồi được dẫn đến không không luân chuyển được, vì vậy vòng quay vốn sẽ giảm, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Không những làm giảm lợi nhuận mà nợ xấu còn làm gia tăng chi phí của các ngân hàng như chi phí quản lý và xử lý nợ xấu, chi phí trích lập dự phòng,… Mặt khác, nếu ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu quá cao sẽ chịu sự giám sát đặc biệt của ngân hàng nhà nước, từ đó làm giảm khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản do không thu hồi được các khoản nợ đến hạn trong khi vẫn phải thực thi đầy đủ các nghĩa vụ đối với người gửi tiền. Nợ xấu làm giảm quy mô nguồn vốn của ngân hàng, qui mô kinh doanh bị thu hẹp, năng lực tài chính giảm sút, dẫn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ dẫn đến phá sản. Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín cũng như niềm tin của công chúng vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị giảm sút, dẫn đến khả năng huy động vốn của ngân hàng giảm, nghiêm trọng hơn nếu tình trạng này kéo dài sẽ đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng. - Đối với nền kinh tế: Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và cung cấp nguồn vốn cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế.
Do 11 đó, tình trạng nợ xấu gia tăng không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế. Ở mức độ thấp, nợ xấu ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Vì nợ xấu khiến nguồn vốn bị ứ đọng trong các dự án thiếu hiệu quả trong khi các dự án hiệu quả lại không có cơ hội tiếp cận nguồn vốn để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hạn chế sức tiêu dùng của người dân Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước.4 Chỉ tiêu đo lƣờng nợ xấu Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu Tùy vào tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng, nền kinh tế trong mỗi thời kỳ khác nhau mà có thể các chỉ tiêu khác để đánh giá thực trạng nợ xấu. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu phổ biến thường xuyên được sử dụng như: Tổng nợ xấu: bao gồm 3 nhóm: nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn.
Nợ xấu càng nhiều thì rủi ro tín dụng càng lớn. Tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ: Tỷ lệ này càng cao thì thì rủi ro tín dụng càng lớn. Tỷ lệ lãi treo/ tổng dư nợ: lãi treo là số tiền khách hàng không trả được khi đến hạn thanh toán lãi. Lãi treo càng lớn thì quỹ dự phòng lãi phải thu càng cao.