CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu của Ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm: Theo Ủy Ban Basel về Giám sát Ngân hàng - Basel Committee on Banking Supervision (BCBS): - BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng BSBC xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiền sau xảy ra:(i) Ngân hàng người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision, 2002).
Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. - BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được.
Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF): Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính các quốc gia (IFRS), IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của tài khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế” ( IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). 2 Từ những định nghĩa trên cho thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên Thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị ngân hàng hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ.
Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là là khoản tiền cho khách hàng vay mà không thể thu hồi gốc và lãi lại được do khách hàng làm ăn thua lỗ, phá sản… Tại Việt Nam: nợ xấu là các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Cụ thể gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày (Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013). Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế có thể thấy mặt định lượng thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là khá tương đồng. dù phân loại theo phương pháp định tính hay định lượng các khoản nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5 được xếp vào danh mục nợ xấu của ngân hàng.
Như vậy, nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro,… của ngân hàng đó. Nợ xấu trong các NHTM ở nước ta là các khoản nợ của các khách hàng chủ yếu là doanh nghiệp, hộ kinh doanh gia đình vay vốn của ngân hàng nhưng gặp khó khăn về tài chính bị ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên hoặc ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm nên phân loại vào nhóm 3 đến nhóm 5. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu: 1. Nguyên nhân chủ quan: Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại Trình độ nghiệp vụ yếu kém, cách làm việc thiếu trách nhiệm của nhân viên tín dụng cộng với khả năng kiểm soát, quản lý của các cấp điều hành còn hạn chế cũng góp làm gia tăng nợ quá hạn (Gou Ning, 2007).
3 Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên ngân hàng sa sút do lợi ích cá nhân. Ngày càng nhiều vụ án liên quan đến việc nhân viên ngân hàng câu kết với khách hàng làm sai lệch hồ sơ, cố tình không làm đúng quy định cho vay (Berger và DeYong, 1997). Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro một cách triệt để, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ. Đối với cho doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng (Shil and et, 2005).
Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu kém, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặt khác, sự thiếu kiểm soát chặt chẽ khách hàng trong quá trình cho vay dẫn đến trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời. Hệ quả tất yếu của việc tăng trưởng tín dụng nóng, thiếu kiểm soát của các ngân hàng. Dưới áp lực tăng trưởng tín dụng, ngân hàng hạ thấp tiêu chí xét duyệt cho vay của để cạnh tranh với các đối thủ và thu hút khách hàng.Tăng trưởng tín dụng nóng kết hợp với nới lỏng tiêu chí xét duyệt cho vay sẽ tìm ẩn rủi ro rất lớn, nguy cơ nợ xấu xuất hiện rất cao nếu khách hàng vay vốn gặp vấn đề trong việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng (Pasha và Khemraj, 2009).
Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn Trình độ, năng lực quản trị kinh doanh yếu kém dẫn đến sai lầm trong việc sử dụng tiền vay không hiệu quả, không những không có tác động đến thúc đẩy hoạt động kinh doanh mà còn đẩy doanh nghiệp đến cảnh nợ nần, gia tăng chi phí kinh doanh (Gou Ning, 2007). Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích vay vốn ban đầu. Việc không giám sát chặt chẽ của ngân hàng sau khi cấp tín dụng đã tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, dẫn đến rủi ro không thu hồi được nợ vay nếu khách hàng bị thua lỗ, phá sản hoặc sử dụng vốn vay vào những lĩnh vực mà pháp luật không cho phép. 4 Khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay cho ngân hàng, một số khách hàng có năng lực tài chính tốt nhưng chây ỳ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không bàn giao TSĐB cho ngân hàng xử lý, nhằm chiếm dụng hoặc chiếm đoạt vốn ngân hàng.
Nguyên nhân khách quan: Môi trường chính trị - kinh tế, xã hội: một sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong và ngoài nước, cung cầu hàng hóa thay đổi, một sự thay đổi trong tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát… cũng khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng (Louzis et al, 2011). Môi trường kinh doanh không thuận lợi, ngành nghề kinh doanh của khách hàng đang gặp khó khăn. Ngoài ra cũng có sự tác động của những yếu tố không thể lường trước được hoặc không thể tránh khỏi: bão, hạn hán, lở núi, sóng thần… sẽ gây thiệt hại lớn cho các thành phần kinh tế. Hệ thống cung cấp, kiểm soát thông tin khách hàng vay còn nhiều yếu kém, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và không nghiêm minh sẽ không thể răn đe các đối tượng có dụng ý xấu 1.
Tác động tiêu cực của nợ xấu: Nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo gây nên sự đổ vỡ lòng tin. Nợ xấu luôn song hành cùng hoạt động tín dụng theo mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro. Vì vậy khi đưa ra một món cho vay thì ngân hàng đã xác định nguy cơ phát sinh nợ xấu. Vấn đề là cần xác định xem tỷ lệ nợ xấu thế nào là phù hợp, tỷ lệ nào là cao và bắt đầu ảnh hưởng xấu đến hoạt động của NHTM.
Theo chuẩn mực quốc tế hiện nay thì tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận được là dưới 5%. Yêu cầu về tỷ lệ nợ xấu được đưa ra vì khi nợ xấu ở mức độ cao sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với NHTM và nếu xảy ra ở trên diện rộng có thể dẫn đến khủng hoảng cho nền kinh tế. Nợ xấu có những tác động chính ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế và làm ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM và doanh nghiệp như sau: 5 1. Đối với hoạt động Ngân hàng thương mại: Giảm lợi nhuận của ngân hàng: Nợ xấu làm cho doanh thu thấp dẫn đến tình trạng thua lỗ.
Hơn nữa kể cả trường hợp không thua lỗ thì do nợ xấu phát sinh, các khoản chi phí cũng tăng lên đáng kể: nó bao gồm chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lý nợ xấu, chi phí trích lập DPRR và các chi phí khác liên quan. Việc gia tăng các khoản chi phí khiến cho lợi nhuận còn lại cũng trở nên thấp hơn so với dự tính ban đầu. Ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng: Do không thu hồi được các khoản cho vay, nợ xấu làm chậm quá trình luân chuyển vốn của ngân hàng. Trong khi đó ngân hàng vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho những khoản tiền gửi, điều này sẽ khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Với tỷ lệ nợ xấu ở mức cao còn có thể dẫn đến sự phá sản của các NHTM. Giảm uy tín của ngân hàng: Khi một ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài sản có cao thì ngân hàng đó thường đứng trước nguy ơ mất uy tín của mình trên thị trường.