chương 1, tác giả đã cho một cái nhìn bao quát về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nợ xấu để làm nền tảng cho xây dựng tổng quan tài liệu về đề tài ở chương 2. TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NHTM VIỆT NAM 2. Tổng quan về nợ xấu của NHTM 2. Khái niệm nợ xấu: Nợ xấu hay nợ khó đòi tên tiếng Anh là Non-performing loans (NPLs) là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp Dưới đây là khái niệm nợ xấu của các tổ chức trên thế giới về nợ xấu: - Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Châu Âu ( Enropean Central Bank, 2016): Nợ xấu là các khoản vay ngân hàng vượt quá 90 ngày mà người vay không thanh toán các khoản trả góp hoặc lãi như đã thỏa thuận. - Khái niệm nợ xấu của Ủy Ban Châu Âu ( European Commision): Các khoản nợ xấu, hoặc “nợ xấu” là các khoản vay mà ngân hàng phải chịu được trả nợ trễ hoặc không được trả nợ từ người vay.Sự thiếu khả năng trả nợ của người vay đã trầm trọng hơn trong cuộc khủng hoảng tài chính và các cuộc suy thoái tiếp theo. Kết quả là, nhiều ngân hàng đã chứng kiến một khoản nợ xấu trong sổ sách của họ. Điều này đặc biệt nghiêm trọng ở một số nước EU) - Khái niệm nợ xấu của Quỹ tiền tệ thế giới ( IMF,2008 ): Nợ xấu là bất kỳ khoản vay nào trong đó: các khoản thanh toán lãi và gốc quá hạn trên 90 ngày; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 hoặc hơn được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; các khoản thanh toán dưới 90 ngày quá hạn nhưng không còn được dự đoán nữa.
Một định nghĩa khác về nợ xấu là một trong những khoản vay mà ngày đáo hạn đã qua nhưng ít nhất là một phần của khoản vay vẫn còn tồn đọng. Định nghĩa cụ thể phụ thuộc vào các điều khoản cụ thể của khoản vay. 6 - Khái niệm về nợ xấu theo Financial Times: Nợ xấu là một khoản vay mà bên vay không thực hiện thanh toán lãi hoặc trả nợ gốc. Vào thời điểm nào khoản vay được ngân hàng phân loại là không hoạt động và khi khoản nợ này trở thành nợ xấu, phụ thuộc vào các quy định của từng địa phương.
Các ngân hàng thường dành một khoản tiền để trang trải các khoản lỗ tiềm ẩn đối với các khoản cho vay (các khoản dự phòng rủi ro cho vay) và ghi nợ xấu trong tài khoản lợi nhuận và lỗ của họ. Ở một số nước, các ngân hàng đã tích luỹ quá nhiều nợ xấu có thể bán chúng - với mức chiết khấu - cho các công ty quản lý tài sản được thành lập đặc biệt (AMCs), cố gắng thu hồi ít nhất một số tiền nợ 2. Chỉ tiêu đo lường nợ xấu: Công thức tính: Tỷ lệ nợ xấu (NPL) = Tổng Nợ xấu/Tổng dư nợ Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN, các khoản dư nợ tín dụng khách hàng của ngân hàng được phân loại từ Nhóm 1 đến Nhóm 5, tương ứng với các loại Nợ đủ tiêu chuẩn (Nhóm 1), Nợ cần chú ý (2), Nợ dưới tiêu chuẩn (3), Nợ nghi ngờ (4) và Nợ có khả năng mất vốn (5). Các khoản nợ phân loại từ Nhóm 3-5 được xem là nợ xấu.
Tác động của nợ xấu 2. Tác động của nợ xấu đối với NHTM : - Nợ xấu có ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM Việt Nam: Hai hoạt động xương sống của NHTM hiện nay là huy động tiền gửi từ khách hàng sau đó cho vay tín dụng. Tuy hoạt động cho vay tín dụng là hoạt động cơ bản, cốt lõi mang lại lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng nhưng lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng hay gọi là nợ xấu. Nợ xấu nếu không được xử lí kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính thanh khoản của ngân hàng, làm mất đi khả năng thanh toán tiền mặt của ngân hàng cho việc trả lãi cho các khoản huy động cũng như đầu tư sinh lời khác của NHTM.
Theo nghiên cứu thực nghiệm của Muriithi (2010) cho thấy có một mối quan hệ trực tiếp cùng chiều giữa khả năng thanh khoản và tỉ lệ nợ xấu tại các NHTM ở 7 Kenya. Kết quả nghiên cứu của ông cho thầy tỉ lệ nợ xấu càng cao kéo theo rủi ro thanh khoản càng cao. - Nợ xấu có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM: Một ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu cao thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng đó bởi vì khả năng sinh lời của ngân hàng được đo thông qua lãi suất của ngân hàng đó mà lãi suất lại bằng doanh thu trừ chi phí. Khi nợ xấu tăng cao tức ngân hàng không thu được cả tiền gốc và lãi của các khoản vay khi đáo hạn đồng nghĩa với doanh thu sẽ sụt giảm.
Bên cạnh đó chi phí lại gia tăng, do phát sinh nhiều chi phí như chi phí quản lí nợ xấu, chi phí xử lí nợ xấu, chi phí trích lập quỹ dự phòng….Doanh thu giảm mà chi phí lại gia tăng điều đó tất yếu sẽ dẫn đến lãi suất sụt giảm tức là khả năng sinh lời giảm. Theo nghiên cứu của tác giả Baasi(2018) cho thấy tỉ lệ nợ xấu ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của bốn ngân hàng lớn được liệt kê ở sở giao dịch chính khoán Ghana. Cùng nhận định trên, nghiên cứu thực nghiệm của Phạm Hữu Hồng Thái (2014) đã sử dụng dữ liệu của 34 NHTM cổ phần từ năm 2005 đến năm 2012. Kết quả chỉ ra rằng, nợ xấu có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của ngân hàng - Nợ xấu ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM: Hiệu quả hoạt động là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng.
Một NHTM được đánh giá là hoạt động có hiệu quả là ngân hàng hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, thu nhập và lợi nhuận cao từ các hoạt động kinh doanh của NHTM. Khi tỉ lệ nợ xấu cao sẽ kéo theo thu nhập, lợi nhuận sụt giảm, ngân hàng sẽ không bảo toàn được vốn đồng nghĩa với việc hiệu quả hoạt động của ngân hàng thấp. Theo nghiên cứu thực nghiêm của tác giả Omwenga & Omar (2017) cho thấy tỉ lệ nợ xấu ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM tại Kynia - Cùng nhận định trên, theo nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả David, Nemwel&George (2012) cho thấy tỉ lệ nợ xấu càng cao thì hiệu quả hoạt động của NHTM càng thấp. 8 Theo tác giả Ozurumba đã nghiên cứu NHTM tại Nigeria từ 2000-2013 cho thấy NPLs ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Nói tóm lại, nợ xấu ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động.
Nếu nợ xấu không được giải quyết tốt sẽ khiến các NHTM mất dần đi uy tín, thương hiệu của mình, làm giảm năng lực cạnh tranh trên thị trường hội nhập khốc liệt hiện nay và nghiêm trọng hơn là dẫn đến tình trạng phá sản. Tác động của nợ xấu đối với Khách hàng: Hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, NHTM phải chú tâm đến việc làm hài lòng khách hàng cả về chất lượng sản phẩm cũng như cách thức phục vụ. Khi nợ xấu cao, ngân hàng không thu được các khoản nợ gốc và lãi khi đáo hạn đồng thời lại phải chi ra nhiều tiền để giải quyết vấn đề nợ xấu làm nguồn tiền bị cạn kiệt. Ngân hàng thiếu tiền mặt để chi trả lãi và các khoản rút tiền đột ngột từ khách hàng cũng như hoạt động cho vay.
Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của khách hàng cho chi trả giáo dục, y tế, nhà ở…. Tác động của nợ xấu đối với nền Kinh Tế Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế. Chính vì vậy nợ xấu có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế. Nói một cách đơn giản, khi tình trạng nợ xấu xảy ra sẽ làm cho các chủ thể trong nền kinh tế khó tiếp cận nguồn vốn cho tiêu dùng hoặc cho mở rộng kinh doanh sản xuất.
Điều đó làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng phát triển kinh tế của đất nước Một cách nghiêm trọng hơn, khi nợ xấu ở mức độ cao sẽ khiến các ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn thậm chí phá sản. Điều này dễ tạo ra hiệu ứng dây chuyền cho toàn bộ hệ thống ngân hàng, làm tê liệt nền kinh tế , ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển đất nước và đời sống người dân 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của NHTM 2. Các nghiên cứu quốc tế về các yếu tố tác động đến nợ xấu 9 Theo nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả Messai & Jouini (2013),tác giả đã thu thập dữ liệu từ 85 ngân hàng trong 3 nước là Ý, Hi Lạp và Tây Ban Nha trong giai đoạn 2004-2008.
Nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ nợ xấu NPLs bị ảnh bởi cả hai nhóm yếu tố vi mô và vĩ mô. Ở nhóm vi mô, NPLs có mối quan hệ cùng chiều với tốc độ tăng trưởng tín dụng năm hiện hành, dự phòng rủi ro vỡ nợ năm hiện hành; mối quan hệ ngược chiều với lãi suất thuần trên tổng tài sản ngân hàng năm trước đó. Ở nhóm nhân tố vĩ mô, NPL có mối quan hệ cùng chiều với t và lãi suất thực năm hiện hành; có mối quan hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng. Theo nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả Ekanayake & Azeez (2015), tác giả đã lấy mẫu dữ liệu từ 9 NHTM trong giai đoạn 1999-2012 và sử dụng mô hình hồi qui dữ liệu bảng.
Nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ nợ xấu NPL bị ảnh hưởng bởi cả nhân tố vi mô và vĩ mô. Ở nhóm nhân tố vi mô, NPL có mối quan hệ cùng chiều với tỉ lệ dư nợ trên tổng tài sản ; ngược chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng và qui mô ngân hàng.