Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nợ xấu, xử lý nợ xấu, pháp luật về xử lý nợ xấu của các NHTM trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trong phạm vi phần tổng quan này, luận án chỉ khảo một số công trình khoa học tiêu biểu. Nghiên cứu lý luận về xử lý nợ xấu và pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Về nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Stefan Kawalec (2002) đưa ra khái niệm về nợ xấu, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, chỉ ra đặc thù của nợ xấu ngân hàng so với các khoản nợ xấu so với các khoản khác của ngân hàng [116].
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Viện Friedrich Ebert Stiftung (2013) sau khi thảm khảo Nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG), Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) và khái niệm nợ xấu theo Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đã xác định “khoản nợ ngân hàng được coi là nợ xấu khi xuất hiện một trong hai dấu hiệu sau: (i) quá hạn trả nợ gốc và lãi; (ii) khách hàng vay vốn bị TCTD coi là không có khả năng trả nợ” [11]. Tất cả các vấn đề trên đã dẫn đến các ngân hàng có thể lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính vì nợ xấu phát sinh. 8 Nir Klein (2013) nghiên cứu các ngân hàng ở khu vực Trung, Đông và Đông Nam Âu trong giai đoạn từ 1999 - 2011 và chỉ ra nợ xấu chịu ảnh hưởng từ các yếu tố của kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, thất nghiệp, lạm phát và trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, nợ xấu sẽ khiến cho việc phục hồi nền kinh tế diễn ra chậm chạp hơn. Irum Saba và cộng sự (2012) khẳng định “nợ xấu” là vấn đề quan trọng nhất đối với sự tồn tại, phát triển của các ngân hàng.
Có rất nhiều yếu tố quyết định đến vấn đề này. Và một trong số đó là các biện pháp kinh tế vĩ mô. Đây là một nghiên cứu toàn diện về các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa GDP thực tế bình quân đầu người, lạm phát, tổng tiền vay và tỷ lệ nợ xấu [112]. Gezu (2014) nghiên cứu về nợ xấu của Ethiopia trong giai đoạn 2002 -2014, xem xét cụ thể cả về vấn đề ngân hàng và nền kinh tế vĩ mô - những yếu tố quyết định nợ xấu của các NHTM ở Ethiopia.
Tác giả đã chọn 8 NHTM lớn ở Ethiopia để phân tích. Nghiên cứu phần nào giải thích nguyên nhân và mối quan hệ giữa nợ xấu và các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Viện Friedrich Ebert Stiftung (2013) phân tích nguyên nhân dẫn đến nợ xấu [11], bao gồm: i) do môi trường pháp lý, ii) do bất cập xuất phát từ nội bộ hệ thống tài chính Việt Nam, trong đó năng lực về quản trị rủi ro của các TCTD yếu kém, hiệu lực thi hành các quy định về công bố thông tin còn thấp, thiếu minh bạch, thông tin tín dụng có độ tin cậy kém, công nghệ ngân hàng còn nhiều bất cập, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng và khách hàng chưa được tuân thủ đúng quy định, hoạt động thâu tóm, mua bán, sáp nhập các công ty sân sau, sở hữu chéo ngân hàng đã tạo ra những vòng luân chuyển tiền tệ không minh bạch. Những nguyên nhân nêu trên được phân tích rất lôgic và hợp lý, gắn với thực tiễn hoạt động xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam và một số nước trên thế giới như Hàn Quốc và Trung Quốc [11].
Trịnh Quang Anh (2015) nêu ra các nhận định về nguyên nhân dẫn đến nợ xấu chủ yếu từ hoạt động cho vay của ngân hàng để đầu tư bất động sản và chứng khoán. Ngoài ra, một số bất cập trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong thời gian vừa qua là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu [1]. 9 Về tác động của nợ xấu đối với ngân hàng và nền kinh tế Hippolyte Fofack (2005) phân tích cuộc khủng hoảng tài chính những năm 1990 đã chỉ ra tác động tiêu cực của nợ xấu đến nền kinh tế như làm tăng rủi ro tín dụng, làm tăng lạm phát, chi phí để giải quyết nợ xấu thì người đóng thuế và người gửi tiền phải gánh chịu dẫn đến thâm hụt ngân sách, giảm phúc lợi xã hội, tăng đói nghèo, tăng nguy cơ rủi ro cho hệ thống ngân hàng do các khoản nợ liên ngân hàng rất lớn. Mohd Zaini Abd Karim và cộng sự (2010) phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và vấn đề nợ xấu ở Singapore và Malaysia.
Nghiên cứu đưa ra nhận định: hiệu quả hoạt động ngân hàng thấp dẫn đến tăng các khoản vay không hiệu quả, đồng thời quản lý kém trong các ngân hàng làm leo thang mức nợ xấu. Vì vậy, giải pháp được nêu ra là cần phải nâng cao hiệu quả của quản trị, điều hành trong các ngân hàng và tăng cường kiểm soát các khoản vay. Nir Klein (2013) chỉ ra các yếu tố tác động của hệ thống ngân hàng tới nợ xấu có thể kể đến là: quản trị yếu kém, rủi ro đạo đức của nhân viên ngân hàng. Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý cho nhà hoạch định chính sách để tháo gỡ tình trạng nợ xấu cao: không cho vay quá nhiều, giữ tiêu chuẩn cấp tín dụng ở mức cao, hạn chế cho vay ngoại tệ; đồng thời giảm thuế, nới lỏng khung pháp lý nhằm giúp các TCTD giải quyết các khoản đầu tư tồn đọng.
Nadege Jassaud và Kenneth Kang (2015) phân tích tác động của nợ xấu đối với ngân hàng và nền kinh tế, những yếu tố gây khó khăn cho việc giải quyết các khoản nợ xấu ngân hàng ở Italy và đề xuất chiến lược thúc đẩy sự phát triển thị trường tái cơ cấu các khoản nợ xấu, từ đó giúp cho công cuộc tái cơ cấu doanh nghiệp và tài chính thành công [114]. Nguyễn Anh Dũng (2014) phân tích tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế Việt Nam và khẳng định hiện tượng này chưa bao giờ là mối quan tâm cho đến khi có sự sụp đổ của cổ phiếu và thị trường bất động sản [23]. Tác giả cho rằng ở Việt Nam các khoản nợ xấu bắt đầu được quan tâm từ năm 2011 và tác giả đã phân tích khái niệm, đặc điểm của nợ xấu, giải thích các nguyên nhân, hậu quả của các khoản nợ xấu và ảnh hưởng của nợ xấu đến các quyết định của nhà đầu tư ở Việt Nam. Về biện pháp xử lý nợ xấu 10 Gerald Nels Olson (1996) đã nghiên cứu các biện pháp tái cấu trúc các khoản nợ như là những biện pháp xử lý nợ xấu hiệu quả.
Tác giả cũng đề cập đến kinh nghiệm của Mỹ trong xử lý nợ xấu ngân hàng và các nguyên tắc xử lý nợ xấu như nguyên tắc thị trường, theo đó các khoản nợ được mua bán trên thị trường mua, bán nợ; vấn đề chứng khoán hóa các khoản nợ để tạo tính thanh khoản cho các khoản nợ xấu [110]. Nadege Jassaud và Kenneth Kang (2015) nêu được đặc điểm của nợ xấu và biện pháp xử lý nợ xấu thông qua thị trường mua bán nợ xấu, khẳng định thị trường này có vai trò quan trọng trong việc giảm các khoản nợ xấu ngân hàng và tái cơ cấu các TCTD [114]. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Viện Friedrich Ebert Stiftung (2013) gợi ý các giải pháp về chính sách nhằm xử lý nợ xấu từ phía Nhà nước, NHTM và từ khách hàng vay vốn của TCTD qua bài học kinh nghiệm của một số các nước trên thế giới [11]. Đào Thị Hồ Hương (2013) không đi sâu vào phân tích đặc điểm của nợ xấu mà chỉ nêu hướng xử lý nợ xấu từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tế xử lý nợ xấu hiện nay [37].
Chẳng hạn hướng xử lý nợ xấu qua kinh nghiệm quốc tế: về phía Công ty quản lý tài sản phải có định hướng và quyền lực rõ ràng. Quyền lực của công ty này cần được giao với ngân sách nhất định để có thể xử lý được các khoản nợ xấu. Về mô hình xử lý nợ xấu Stefan Kawalec (2002) so sánh mô hình xử lý nợ xấu tập trung và phi tập trung, tìm ra những ưu điểm và hạn chế của mỗi mô hình để áp dụng cho phù hợp tại Balan [116]. Nghiên cứu thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam Lê Thị Thu Thủy và Đỗ Minh Tuấn (2015) phân tích tổng quan và đánh giá 11 pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam, các quy định pháp luật về nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý TCTD trong ngăn ngừa và kiểm soát nợ xấu, đề xuất xây dựng khung pháp lý cho thị trường mua bán nợ xấu hình thành và phát triển ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, bài viết nêu ra giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm sao cho bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm mà không cần có sự đồng ý của bên bảo đảm [83]. Lê Thị Thu Thủy và cộng sự (2016) khẳng định việc mua bán nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm như là một biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng. Các tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam và nêu ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu như áp dụng các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát nợ xấu, mua bán và chuyển nhượng nợ xấu, về thu hồi nợ xấu bằng xử lý tài sản bảo đảm và có những nghiên cứu bước đầu về mua bán nợ xấu của TCTD và xử lý nợ xấu của Ngân hàng chính sách xã hội [81]. Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) nghiên cứu vấn đề “nợ xấu” theo hai tiêu chí: tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính.
Đặc biệt, về tiêu chí định lượng, các nhóm nợ xấu được xếp vào một trong các nhóm là nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5).