Chương 1: Giới thiệu đề tài. – Chương 2: Cơ sở lý luận chung về đánh giá hiệu quả hoạt động sử dụng nguồn vốn. – Chương 3: Giới thiệu về Tổng công ty Xây Dựng Số 1 – CTCP (CC1) – Chương 4: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Tổng công ty Xây dựng số 1 – CTCP. SVTH: Nguyễn Thảo Ly 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Thu Trang – Chương 5: Nhận xét và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của công ty. SVTH: Nguyễn Thảo Ly 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Khái niệm về nguồn vốn v Khái niệm về nguồn vốn – Vốn là một điều kiện tiên quyết để cho một doanh nghiệp ra đời có thể hoạt động. Vấn đề đặt ra khi kinh doanh của một doanh nghiệp đối với vốn làm thế nào để có thể huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình, doanh nghiệp phải nghiên cứu từng nguồn vốn của mình, chi phí của từng nguồn vốn cụ thể để từ đó xác định cho mình phương pháp quản lý phù hợp với từng điều kiện cụ thể, và giai đoạn của doanh nghiệp.
Nhằm đạt được mục tiêu sử dụng nguồn vốn hợp lý nhất và sinh lợi tối đa cho doanh nghiệp. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn, đứng trên các giác độ khác nhau có cách nhìn khác nhau về vốn.A Samuelson – nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển: “Vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Theo quan điểm của nhà triết học Karl Marx: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Ngoài ra còn nhiều các quan điểm khác nhau về vốn, nhưng khái niệm được chấp nhận rộng rãi nhất là: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện dưới hình thái giá trị của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.
(Phạm Thị Vân Anh, 2019, tr.9) v Đặc điểm của nguồn vốn – Tiền chỉ trở thành vốn khi có đủ các điều kiện sau: + Thứ nhất: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, hay nói cách khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng hàng hoá có thực. + Thứ hai: Đối với bất kỳ dự án kinh doanh nào đó của doanh nghiệp thì điều trước tiên tiền phải được tích tụ và đạt đến một lượng nhất định đảm bảo cho dự án có thể hoạt động. Như vậy có nghĩa nếu doanh nghiệp có nhiều nguồn lực, và có kế hoạch khả thi cho nhiều dự án nhưng nguồn tiền không đạt được mức độ đủ cho dự án hoạt động hoặc tiền này được sử dụng cho các mục đích khác thì nó vẫn chưa được gọi là vốn. Như vậy SVTH: Nguyễn Thảo Ly 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Thu Trang khi bắt đầu khởi sự một dự án thì điều kiện cần thiết là doanh nghiệp phải tính tới yếu tố vốn và phương án sử dụng vốn phù hợp, và vốn này được đảm bảo của nó. + Thứ ba: Khi có đủ một lượng nhất định thì tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Nếu một hoạt động, dự án được đảm bảo bởi một lượng tiền cần thiết nhưng nguồn tiền này phải được đưa vào sử dụng, khi đó tiền mới thực sự chuyển thành vốn. Từ những vấn đề trên cho thấy vốn có một số đặc điểm sau: – Thứ nhất: Vốn là dạng hàng hoá đặc biệt vì các lý do: + Vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng.
+ Giá trị của vốn được thể hiện ở chi phí vốn bỏ ra để có được nó từ các nguồn khác nhau hay còn gọi là chi phí vốn. + Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc sử dụng vốn đó để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh như mua máy móc, thiết bị vật tư, hàng hoá, chi phí lương nhân công, chi phí bán hàng, chi phí quản lý. Vốn là hàng hoá đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu nó. Dựa trên nguồn hình thành vốn, có thể thấy rằng khi huy động vốn chúng ta có quyền sử dụng tuy nhiên quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó.
Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: Qua quá trình sử dụng còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó đó là giá trị của thặng dư. Chính vì vậy, giá trị của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của bất kì doanh nghiệp nào. Điều này đặt ra yêu cầu đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dư tối đa, bù đắp cho chi phí vốn và đạt được lợi nhuận cuối cùng là lớn nhất. Thời gian sử dụng là tối ưu hay thời gian quay vòng vốn là nhanh nhất, nhằm đem lại giá trị lớn nhất.
+ Thứ hai: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô chủ. + Thứ ba: Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời. + Thứ tư: Vốn phải được tích lũy và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư và sản xuất kinh doanh. Một lượng vốn không đủ sẽ không phát huy hiệu quả tối ưu thậm chí do không đủ theo yêu cầu nên mặc dù có giá trị nhưng sẽ không sản sinh hiệu quả nào.
(Phạm Khắc Thành, 2018, tr.11) – Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có một lượng vốn nhất định, khác nhau giữa các doanh nghiệp. Trong bất kì đơn vị nào, vốn đều vận động liên tục qua các giai đoạn khác nhau. Sự vận động của vốn xét trong một trật tự nhất định, kế tiếp nhau theo một trật tự xác định để tạo thành một chu kỳ tuần hoàn khép kín từ một hình thái cụ thể nhất định sau khi tuần hoàn vốn sẽ biến đổi về mặt hình thái và cả về giá trị của nó. Những thông tin về sự biến đổi này là rất cần thiết để tìm ra phương hướng và biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất, kinh doanh và quá trình tái đầu tư – quá trình vận động lớn lên của vốn, góp phần nâng cao hiệu quả SVTH: Nguyễn Thảo Ly 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Thu Trang sử dụng vốn tại công ty, phân loại vốn để theo dõi, sử dụng và có biện pháp quản lý tốt hơn.2 Phân loại vốn 2.1 Căn cứ theo công dụng kinh tế – Căn cứ theo công dụng kinh tế, vốn của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính. + Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kì kinh doanh. Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái: – Hình thái hiện vật: Đó là toàn bộ TSCĐ dùng trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Nó bao gồm nhà cửa, máy móc thiết bị, công cụ, … – Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao khi chưa được sử dụng để sản xuất TSCĐ, là bộ phận vốn cố định đã hoàn thành vòng luân chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu.
+ Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ và vốn lưu động. Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu thông. Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hóa. Nó là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương… Những giá trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hóa.
Trong quá trình sản xuất, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương đã bị người lao động hao phí nhưng được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá trị nguyên liệu, nhiên vật liệu được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kì sản xuất kinh doanh đó. Vốn lưu động ứng với loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau. Đây là một chỉ số tài chính dùng để đo lường hiệu quả hoạt động cũng như năng lực tài chính trong ngắn hạn của một công ty. (Nguyễn Thị Thuý Vân, 2007, tr.9) + Vốn đầu tư tài chính của doanh nghiệp: Là một bộ phận vốn kinh doanh của doanh nghiệp được đầu tư ra bên ngoài nhằm mục đích sinh lời.
Có nhiều hình thức đầu tư tài chính ra bên ngoài như: doanh nghiệp bỏ vốn mua cổ phiếu, trái phiếu của các công ty khác, hoặc góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác. Mục đích của đầu tư tài chính ra bên ngoài là nhằm thu lợi nhuận và hạn chế rủi ro về vốn nhờ đa dạng hoá đầu tư. Phân loại vốn theo cách này có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp trong việc lựa chọn loại nguồn vốn thích hợp với từng loại tài sản cần tài trợ, trong việc đề ra các biện pháp quản lý vốn thích hợp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và bảo toàn số vốn đã bỏ ra. SVTH: Nguyễn Thảo Ly 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Thu Trang 2.2 Căn cứ theo quan hệ sở hữu – Theo cách phân loại này, vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn chủ sở hữu và vốn nợ phải trả. + Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm các bộ phận chủ yếu: vốn góp ban đầu; lợi nhuận không chia; vốn tăng thêm bằng phát hành cổ phiếu mới. Tuỳ theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp mà tính chất và hình thức tạo vốn của từng doanh nghiệp là khác nhau. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước.
Vốn góp ban đầu của công ty cổ phần là vốn do các cổ đông đóng góp. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn là do các thành viên của công ty đóng góp. (Phạm Khắc Thành, 2018, tr.13) Đối với doanh nghiệp tư nhân là chủ doanh nghiệp bỏ vốn.