CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 LÝ LUẬN VỀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về vốn Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có vốn. Vốn là điều kiện thiết yếu, là nguồn lực quan trọng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Vốn được tiếp cận với nhiều quan điểm khác nhau.Marx thì :“Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”.Marx quan niệm rằng chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Theo các nhà kinh tế học của trường phái tân cổ điển như A.Samuelson thì: “Vốn được hiểu là các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh”.
Trong quan niệm về vốn của A.Sammelson không đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. (Nguyễn Đăng Hạc, 2001) Theo David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbusch (2008) trong cuốn “Kinh tế học Vĩ mô” phiên bản thứ 8: “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo”. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá và dịch vụ khác.
Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,. Đất đai không được xem là vốn. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện nay thì: “Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm tài sản hiện vật như nhà xưởng, đất đai, vật kiến trúc, vật tư hàng hoá, máy móc thiết bị,…; tài sản tiền tệ như tiền bạc, tài sản tài chính,….và cả những tài sản vô hình như chất xám, quyền sở hữu công nghệ, uy tín doanh nghiệp, nhãn mác độc quyền”. Đây được xem là quan điểm đầy đủ và phổ biến nhất.
Vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái giá trị và hình thái hiện vật. Về hình thái giá trị, vốn tồn tại dưới hình thái tiền tệ, về hình thái hiện vật, vốn tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải,…Đây cũng là document, khoa luan21 of 98. tai lieu, luan van22 of 98. 11 quan điểm mà trong nghiên cứu này sẽ sử dụng và tập trung nghiên cứu vốn dưới hình thái giá trị.
Theo Thư viện học liệu mở Việt Nam (VOER) thì vốn của doanh nghiệp dưới hình thái giá trị có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản dùng để sản xuất ra một lượng giá trị các sản phẩm. Vốn phản ánh về mặt giá trị các nguồn lực, còn tài sản phản ánh về mặt hiện vật các nguồn lực đó; Thứ hai, vốn phải vận động và sinh lời. Vốn biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì tiền đó phải vận động sinh lời. Vốn gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, trong quá trình vận động đó, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền.
Mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, gia tăng giá trị doanh nghiệp, nên vốn không chỉ vận động mà còn phải sinh lời; Thứ ba, vốn phải được tích trữ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn cần phải đạt một quy mô đủ lớn thì mới có thể hoạt động sinh lời. Do đó, doanh nghiệp cần xác định chính xác nhu cầu vốn, khai thác các tiềm năng về vốn, thu hút các nguồn vốn; Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian, đồng vốn ở các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau. Vì tiền có giá trị về mặt thời gian, tiền là biểu hiện của vốn, do vậy vốn cũng có giá trị thời gian.
Trong điều kiện cơ chế thị trường, do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như lạm phát, sự biến động của giá cả nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm đều khác nhau. Khi định giá doanh nghiệp, tính toán các phương án bảo toàn vốn phải đưa vốn về cùng một thời điểm để so sánh; Thứ năm, vốn phải gắn với chủ sở hữu. Mỗi đồng vốn đều có chủ sở hữu nhất định. Khi đồng vốn gắn với chủ sở hữu nhất định thì mới hướng người quản trị doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn, tránh chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả.2 Phân loại vốn Trong công tác quản lý, căn cứ vào những tiêu thức nhất định, có thể phân loại vốn của doanh nghiệp thành những loại khác nhau.
Theo Đàm Văn Huệ (2006) có những cách phân loại vốn như sau: document, khoa luan22 of 98. tai lieu, luan van23 of 98.1 Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển, vốn được chia thành vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định (VCĐ): Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ) trong doanh nghiệp. Đây là số vốn đầu tư để mua sắm, lắp đặt, xây dựng các TSCĐ để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Số vốn này mang tính đầu tư ứng trước, nếu sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được khi nó chuyển dần một phần giá trị vào sản phẩm hay dịch vụ. Chính vì vậy, quy mô của VCĐ nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của TSCĐ và ảnh hưởng đến trình độ trang bị TSCĐ cho sản xuất kinh doanh. VCĐ có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp vì quy mô của nó quyết định đến năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Vốn lưu động (VLĐ): Các doanh nghiệp thực hiện sản xuất kinh doanh, ngoài TSCĐ còn có các tư liệu sản xuất khác như công cụ dụng cụ, nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm; các tài sản ngắn hạn (TSNH) như tiền, sản phẩm hàng hoá dự trữ chờ tiêu thụ, chứng khoán ngắn hạn,… Các tài sản này về hình thái hiện vật được gọi là TSNH, còn về hình thái giá trị được gọi là VLĐ.
Như vậy, VLĐ là một bộ phận của vốn được ứng trước để hình thành nên TSNH nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của DN được tiến hành thường xuyên, liên tục. Với các đặc trưng của VLĐ, việc huy động, quản lý và sử dụng VLĐ hiệu quả và hợp lý là điều mà các nhà quản trị doanh nghiệp cần quan tâm.2 Căn cứ vào nguồn hình thành Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được chia thành vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu (VCSH): Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm: vốn điều lệ, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và các quỹ của doanh nghiệp, vốn tài trợ của Nhà nước, trong đó: (1) Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ doanh nghiệp. (2) Vốn tự bổ sung là vốn do doanh nghiệp tự bổ sung từ nội bộ doanh nghiệp, chủ yếu được lấy từ lợi nhuận để lại của doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức lấy một phần từ quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khấu hao,…VCSH càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
document, khoa luan23 of 98. tai lieu, luan van24 of 98. 13 Nợ phải trả: Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các chủ thể của nền kinh tế, bao gồm: (1) Vốn vay là vốn mà doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cá nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập. (2) Vốn chiếm dụng hợp pháp là trong quá trình sản xuất kinh doanh, DN có mối quan hệ thanh toán với các chủ thể kinh tế như: Nhà nước, người lao động, khách hàng, người bán,…từ đó phát sinh tình trạng vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng.3 Căn cứ vào phạm vi huy động: Căn cứ vào phạm vi huy động, vốn được chia thành vốn bên trong và vốn bên ngoài doanh nghiệp.
Vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản thân doanh nghiệp, bao gồm: tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng, thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ,… Vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài bao gồm: vốn liên doanh liên kết, vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vay tổ chức kinh tế khác, vốn huy động từ phát hành trái phiếu, nợ nhà cung cấp và các khoản nợ khác,… 1.3 Vai trò của vốn Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và nguồn lực của doanh nghiệp. Vì vậy, vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Về pháp luật: Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại doanh nghiệp).
Vốn được xem là cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo cho sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật. Về xã hội: Vốn một phần quyết định việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về cho doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có một nguồn vốn dồi dào, chế độ phúc lợi cho nhân viên cũng cao hơn, thu hút được nhiều nhân lực trình độ chuyên môn cao, góp phần thúc đẩy năng suất lao động, tạo giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp trong nước có thể đáp ứng được nhu cầu của người lao động thì sẽ hạn chế được tình trạng nhân tài bị các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm.
document, khoa luan24 of 98. tai lieu, luan van25 of 98. 14 Về kinh tế : Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần có vốn. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó không những đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục mà còn phải dùng để cải tiến máy móc thiết bị, hiện đại hoá công nghệ.