CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN VỚI DNNVV Hiệu quả hoạt động cho vay dự án bất động sản với DNNVV được phân tích và nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm: khái niệm, phân loại, những yếu tố tác động, diễn biến của thị trường nghiên cứu. Những bài nghiên cứu trên có thể được chia thành hai nhóm: (i) nhóm nghiên cứu về hoạt động cho vay DNNVV và (ii) nhóm nghiên cứu về hiệu quả hoạt động cho vay DNNVV tại NHTMCP Đại chúng Việt Nam. Từ đó, khóa luận chỉ ra những khoảng trống để nghiên cứu triển khai. Các công trình nghiên cứu 1.
Nhóm nghiên cứu về hoạt động cho vay DNNVV • Đối với nghiên cứu nước ngoài Thống kê của World Bank năm 2015 cho thấy có khoảng 50% các DNNVV không thể tiếp cận được nguồn vốn chính thức (nguồn vốn từ Chính phủ, ngân hàng và các nguồn khác). Thông qua từng bài nghiên cứu trong từng thời kì, các tác giả đã phân tích hoạt động cho vay DNNVV cũng như nhận xét những nhân tố tác động đến hoạt động này của mỗi quốc gia. Bài nghiên cứu của Haron, Said, Jayaraman, Ismail (2013) đưa ra ba chỉ tiêu ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tạo lập và phê duyệt khoản vay đối với DNNVV của TCTC, bao gồm: đặc điểm doanh nghiệp, khả năng tài chính và tài sản thế chấp được đo bằng công thức của Hệ thống Thông tin Tín dụng Trung ương (CCRIS - Central Credit Reference Information System) cũng như xây dựng bảng hỏi gửi cho 63 nhà quản lý ngân hàng và nhân viên ở khu vực phía Bắc bán đảo Malaysia. Đối với việc xác định khả năng tài chính, Kitindi, Magembe và Sethibe (2007) cho rằng các chủ nợ, ngân hàng và các tổ chức cung ứng vốn sử dụng BCTC do doanh nghiệp cung cấp (BCTC nội bộ, thuế) để phân tích hiệu quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và dự đoán kết quả tương lai.
Tuy nhiên, việc thiếu thông tin đáng tin cậy (cụ thể một số đơn vị sử dụng thông tin phi tài chính) làm cho lãi suất cho vay cao hơn, ngay cả khi DNNVV đã có mối quan hệ lâu dài với ngân hàng (Bass và Schrooten, 2005). Việc cho vay dựa trên mối quan hệ không phải là yếu tố duy nhất mà ngân hàng 4 cân nhắc khi mở rộng giới hạn cho vay đối với DNNVV (Berger và Udell, 2006). Để khắc phục tình trạng thiếu thông tin nói trên, Berry và cộng sự (1993) chứng tỏ các thông tin được cung cấp trên BCTC kiểm toán sẽ tăng mức độ tin cậy và giảm rủi ro cho các bên trong quá trình xem xét tín dụng, do các thông tin này đã được tổ chức kiểm toán đứng ra kiểm tra theo quy chuẩn. Xét trên một khía cạnh khác, nhiều DNNVV thiếu thông tin nhưng với sức mạnh đàm phán cũng như uy tín và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp vẫn có thể được hưởng khoản vay ưu đãi hơn các doanh nghiệp khác.
Kết luận này được Grunet và Norden trong bài nghiên cứu năm 2011, sau khi khảo sát 1062 khoản vay đến từ 240 khách hàng do sáu ngân hàng lớn từ Đức cung cấp trong giai đoạn 1992 – 1996 và nhu cầu của 1761 DNNVV ở Mỹ năm 2003. Bên cạnh đó, thiếu thông tin không phải là lí do duy nhất khiến lãi suất cho vay DNNVV tăng. Lãi suất cho vay ở các nước đang phát triển cao hơn so với các nước phát triển do khác biệt về môi trường kinh tế, thể chế và pháp lý (Beck và cộng sự, 2009). Hơn nữa, việc xác định khả năng tiếp cận tín dụng còn dựa trên số năm hoạt động, ngành ưu tiên hay các chỉ tiêu định lượng của DNNVV.
Thứ nhất, khả năng tiếp cận tín dụng tương quan thuận với số năm kinh nghiệm của doanh nghiệp (Pandula, 2001). Hoạt động kinh doanh trong nhiều năm cho thấy các công ty đã có vị thế nhất định trên thị trường và thiết lập nền tảng đầu ra, đầu vào vững chắc. Mặt khác, các doanh nghiệp mới thành lập không có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho vay từ các TCTC vì thiếu thông tin về hồ sơ tài chính. Những điều này đã tạo nên khó khăn cho ngân hàng trong việc thiết kế phương án phù hợp cho doanh nghiệp.
Thứ hai, đối với mỗi quốc gia, các ngân hàng thường ưu tiên một số ngành trọng điểm trong từng thời kì. Theo nghiên cứu khác của Pandula (2011), các DNNVV trong lĩnh vực nhất định, ví dụ như xây lắp sẽ cần vay nhiều hơn để đầu tư và trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, lao động và nguyên liệu thô hơn là các ngành khác. Thứ ba, mặc dù rất khó xây dựng quy chuẩn để đánh giá hoạt động của DNNVV nhưng nhiều nghiên cứu chứng minh rằng doanh thu và lợi nhuận lớn sẽ làm tăng tỷ lệ tiếp cận thành công khoản vay của doanh nghiệp (Bigsten và cộng sự, 2000). Luận điểm này cũng được Topalova đồng tình và ủng hộ trong bài nghiên cứu năm 5 2004.
Ngoài ra, doanh số bán hàng và tỷ lệ doanh thu bán hàng tăng sẽ làm giảm bớt các giới hạn tín dụng (Pandula, 2011). Bên cạnh đó, tài sản thế chấp cũng là một yếu tố quan trọng cho DNNVV tiếp cận khoản vay (Bougheas và cộng sự, 2005). Tài sản thế chấp làm giảm rủi ro của khoản vay bằng cách trao cho TCTC một yêu cầu bồi thường đối với tài sản hữu hình mà không làm giảm yêu cầu bồi thường đối với khoản nợ chưa thanh toán. Xét trên một khía cạnh khác, Canales, Nanda và Som (2011) đã đưa ra kết luận khi nghiên cứu tổng hợp sự ảnh hưởng của việc cạnh tranh trong ngành ngân hàng đến điều kiện cấp tín dụng cho các DNNVV cũng như sự ảnh hưởng của mô hình tổ chức ngân hàng đến hiệu quả cho vay.
Các ngân hàng nhỏ và theo mô hình phân tán dễ chấp nhận cho vay các DNNVV có tính rủi ro cao hơn (Mian, 2008), có thể khai thác tốt hơn sức mạnh thị trường bằng cách đưa ra các điều kiện giới hạn tín dụng phù hợp hoặc tính lãi suất cho vay cao hơn (Rajan, 1992) và có xu hướng sử dụng nhiều thông tin phi tài chính trong việc thiết lập các khoản vay (như ngành dịch vụ - khó cung cấp thông tin hơn cho ngân hàng và ít tài sản thế chấp) (Berger và các cộng sự, 2005). Hơn nữa, mô hình phân tán giúp các chi nhánh ngân hàng có quyền tự chủ lớn hơn so với mô hình tập trung (Stein, 2002). Nhằm làm rõ hơn luận điểm nêu trên, tác giả đã sử dụng số liệu về khoản vay DNNVV ở Mexico giai đoạn 2002 – 2006 để chỉ ra rằng những người quản lý ngân hàng phân tán nhạy cảm với môi trường địa phương hơn so với các nhà quản lý ngân hàng tập trung. Họ cung cấp các điều khoản tín dụng hấp dẫn hơn và sẽ chọn lựa những lĩnh vực mà họ có kinh nghiệm.
Việc giảm bớt điều kiện cấp tín dụng cũng vì thế mà phụ thuộc rất nhiều vào sự cạnh tranh của các ngân hàng với nhau. Kết quả nghiên cứu này củng cố thêm công trình thực nghiệm của Sapienza (2002) và Berger và cộng sự (2005) – những nghiên cứu cho thấy mô hình tổ chức ngân hàng có tác động quan trọng trong việc tìm kiếm DNNVV phù hợp để cho vay. Cũng nghiên cứu về thị trường Mexico, Fisman và Love (2003) chỉ ra rằng các DNNVV thường phải dựa vào những khoản tín dụng có giá đắt hoặc lấy vốn từ thẻ tín dụng cá nhân của chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động của mình. Để hiểu rõ hơn về mô hình cho vay, Phan Quốc Đông, Trần Hải Yến, Phạm Hà My trong bài nghiên cứu “Mô hình cho vay đối với DNNVV: Kinh nghiệm châu Phi 6 và bài học cho Việt Nam” năm 2015 đã tìm hiểu ba mô hình cho vay của Root Capital, E+Co và GroFin đối với các DNNVV ở châu Phi, góp phần giải quyết thành công bài toán về vốn cho DNNVV, đồng thời gắn với mục tiêu phát triển bền vững.
Các mô hình này đã kết hợp với hoạt động cho vay thuần túy, khai thác triệt để các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp để nâng cao năng lực quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đảm bảo dự án vay vốn thành công và đảm bảo khả năng trả nợ. Kinh nghiệm thực tiễn này hoàn toàn có thể áp dụng cho DNNVV ở Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp đang lúng túng trong việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh và quản lý tài chính, hướng tới phát triển bền vững. • Đối với nghiên cứu trong nước DNNVV được xác định là động lực phát triển kinh tế quốc dân, là một trong những lĩnh vực ưu tiên cần đầu tư vốn để phát triển. Các bài nghiên cứu về việc tiếp cận vốn thông qua hoạt động cho vay đối với DNNVV tại Việt Nam tập trung phân tích tình hình khi nền kinh tế khó khăn và trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng.
Nguyễn Văn Lê (2014) đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV khi nền kinh tế khó khăn, mất ổn định và nêu lên một số tiêu chí đánh giá cũng như nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này. Bằng việc nghiên cứu kinh nghiệm của Đài Loan, Hàn Quốc và Ireland về tăng trưởng tín dụng ngân hàng khi các nước đang đối mặt với bất ổn kinh tế vĩ mô nhằm rút ra một số bài học cho NHTM Việt Nam. Từ những cơ sở lí luận nên trên, tác giả tiếp cận vấn đề theo phương pháp định tính và định lượng để kết luận rằng hoạt động của các DNNVV có thể bị ảnh hưởng nhưng nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai khi nền kinh tế ổn định hơn. Cụ thể, với thực trạng cho vay DNNVV của ngân hàng VPBank chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2006 – 2008 để thấy được rằng, mặc dù, trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng doanh số cho vay và số lượng khách hàng mới vẫn được duy trì tăng ổn định hàng năm (Vũ Thị Thúy Vân, 2008).
Quy mô cho vay DNNVV chiếm 93%, chủ yếu cung ứng nguồn vốn nội tệ cho các doanh nghiệp thương mại dịch vụ (chiếm 79% cơ cấu ngành). Chất lượng các khoản vay được đảm bảo khi tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1,5% xuống còn 1,3%. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chưa đi sâu vào phân tích sự tác động 7 của các nhân tố đến việc mở rộng hoạt động cho vay mà mới chỉ phân tích được nhóm chỉ tiêu tín dụng.