CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về DNNVV Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (Luật doanh nghiệp, 2014). Như vậy, trong nền kinh tế hiện nay sẽ có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển, hoạt động và cạnh tranh với nhau.
Để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, tiêu chí quy mô thường được lựa chọn để phân loại doanh nghiệp. Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được chia thành 2 nhóm: doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Yếu tố quy mô được sử dụng để phân loại các doanh nghiệp dựa vào các yếu tố: quy mô vốn, quy mô lao động, doanh thu,… Tùy từng nước có thể sử dụng một, hai hoặc cả ba tiêu chí này. Sự khác nhau về tiêu chí xác định là hoàn toàn khách quan, phụ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển của mỗi nước cũng như các chính sách, biện pháp hỗ trợ và định hướng phát triển của riêng mình.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Mỗi quốc gia có tiêu chí riêng để xác định DNNVV ở nước mình. Có thể một doanh nghiệp đối với quốc gia này là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng đối với nước khác là doanh nghiệp lớn. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa DNNVV theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa định nghĩa DNNVV như sau: 7 Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa theo quy mô số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) và tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc doanh thu cả năm, cụ thể như sau: DN SIÊU NHỎ DN NHỎ DN VỪA LĨNH Nếu sử Nếu sử Nếu sử Nếu sử Nếu sử Nếu sử VỰC dụng tiêu dụng tiêu dụng tiêu dụng tiêu dụng tiêu dụng tiêu Lao động Lao động Lao động chí Doanh chí Nguồn chí Doanh chí Nguồn chí Doanh chí Nguồn thu vốn thu vốn thu vốn Nông nghiệp, Từ 10 Trên Trên Trên Trên Trên Trên Từ 3 tỷ trở Từ 3 tỷ trở lâm lao động trở 10 đến 100 3 đến 50 3 đến 20 100 đến 200 50 đến 200 20 đến 100 xuống xuống nghiệp, xuống lao động tỷ tỷ lao động tỷ tỷ thủy sản Công Từ 10 Trên Trên Trên Trên Trên Trên Từ 3 tỷ trở Từ 3 tỷ trở nghiệp, lao động trở 10 đến 100 3 đến 50 3 đến 20 100 đến 200 50 đến 200 20 đến 100 xuống xuống xây dựng xuống lao động tỷ tỷ lao động tỷ tỷ Thương Từ 10 Trên Trên Trên Trên Trên Trên Từ 10 tỷ Từ 3 tỷ trở mại, dịch lao động trở 10 đến 50 3 đến 100 3 đến 50 50 đến 100 100 đến 300 50 đến 100 trở xuống xuống vụ xuống lao động tỷ tỷ lao động tỷ tỷ (Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Về mặt quy mô: được phân thành 3 cấp là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa theo quy mô tổng nguồn vốn. - Về lĩnh vực kinh doanh: được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế và quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào lĩnh vực có doanh thu cao nhất.
Trường hợp không xác định được lĩnh vực có doanh thu cao nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhất. - Về vốn đăng ký: được xác định trong bảng cân đối kế toán thể hiện trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế. 8 - Về số lượng lao động trung bình hàng năm: là tổng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội của năm chia cho số tháng trong năm và được xác định trên chứng từ nộp bảo hiểm xã hội của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội. - Về doanh thu: là tổng doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và được xác định trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế.
Đặc điểm của DNNVV DNNVV là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điếm của một doanh nghiệp. Ngoài ra DNNVV còn có đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ: Các DNNVV là những doanh nghiệp cần vốn đầu tư ban đầu thấp, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao. Vì loại hình DNNVV có quy mô vừa phải nên yêu cầu về vốn đầu tư sản xuất không quá lớn hơn nữa chu kỳ sản xuất kinh doanh thường ngắn, vòng quay của mồi đồng vốn nhanh. Chính vì thế mà quy mô cấp tín dụng cho loại hình doanh nghiệp này cũng không lớn.
Các DNNVV thường là doanh nghiệp có năng lực tài chính thấp, thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng chỉ bằng số vốn tự có của một hoặc một số cá nhân. Với lượng vốn ít như vậy doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Do việc nguồn vốn có hạn nên các DNNVV thường có nhu cầu vay vốn để có thêm nguồn lực cho hoạt động kinh doanh và tăng khả năng tiếp cận các phương án, dự án cần có quy mô nguồn vốn lớn hơn so với vốn tự có của chính bản thân doanh nghiệp. Thứ hai, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao: 9 Về cơ cấu tổ chức thì DNNVV là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức đơn giản gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nên dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
Cơ cấu gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi đế chủ doanh nghiệp quản lý, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm giảm thiếu sai lệch thông tin do giảm bớt cấp trung gian. Vì có tính linh hoạt cao nên các DNNVV có thế nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh đế thích ứng với tình hình thị trường. Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với việc thiếu khả năng nghiên cứu, đánh giá tình hình thị trường dẫn tới rủi ro cho doanh nghiệp khi các quyết định đưa ra thiếu tính chuẩn xác. Đây là hạn chế xuất phát từ thực tế một bộ phận ban lãnh đạo DNNVV chưa đủ năng lực điều hành, thiếu kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp, quản trị kinh doanh, ban lãnh đạo không có kinh nghiệm quản trị trong những doanh nghiệp lớn,… Năng lực quản trị điều hành của chủ DNNVV chưa tốt, còn thói quen điều hành quản trị theo kiểu tập trung, tâp quyền.
Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Các chủ doanh nghiệp thường là những người chưa được qua đào tạo về quản lý, phần lớn thiếu hiểu biết về pháp luật. Một số Luật nhiều doanh nghiệp không nắm được như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh,…. Ngoài ra, tính ổn định trong sản xuất kinh doanh của DNNVV không cao gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định và theo dõi khoản vay.
Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế: Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính ngắn hạn, tạm thời theo nhu cầu của thị trường. Do đó, DNNVV thường có xu hướng đi chệch ra khỏi sứ mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu và không có sự điều chỉnh kịp thời hợp lý. 10 Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi để giúp bất kỳ một doanh nghiệp nào nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với DNNVV, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất thường không được thường xuyên nên dẫn tới xu hướng rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém.
Hệ quả là các DNNVV thường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong việc nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ. Thứ tư, hoạt động kinh doanh của DNNVV chịu ảnh hưởng lớn của môi trường kinh doanh: Cơ cấu doanh nghiệp gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệp quản lý, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm giảm thiếu sai lệch thông tin do giảm bớt cấp trung gian. Vì có tính linh hoạt cao nên các DNNVV có thế nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh để thích ứng với tình hình thị trường.