CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động Bảo lãnh Ngân hàng 1. Khái niệm và phân loại Bảo lãnh Ngân hàng a. Khái niệm Bảo lãnh Ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng (bank guarantee) đã được sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 70.
Tại Việt Nam, vào những năm 90, cùng với sự vận hành nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, các dịch vụ ngân hàng ngày càng hoàn thiện và phát triển hơn. Năm 1994, nghiệp vụ bảo lãnh lần đầu tiên được áp dụng tại các NHTM Việt Nam. Sau gần 20 năm áp dụng, nghiệp vụ bảo lãnh đã có những bước đi rất đáng khích lệ và ngày càng được hoàn thiện. Bảo lãnh là khái niệm được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, ở mỗi góc độ nó được hiểu theo những nghĩa khác nhau.
Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, bảo lãnh cũng là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó các ngân hàng (hoặc các TCTD) đứng ra bảo đảm (cam kết) trước người có quyền rằng người có nghĩa vụ (con nợ) sẽ thực hiện nghĩa vụ (trả nợ). Khi nghiên cứu các tập quán quốc tế về bảo lãnh, chúng ta còn biết đến thuật ngữ “bảo lãnh trả tiền ngay” (hay “bảo lãnh theo yêu cầu” - demand guarantee). Cụ thể, quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (Uniform Rules for Demand Guarantees, URDG 758, ICC 2010) đã nêu rõ: “Bảo lãnh theo yêu cầu hoặc bảo lãnh là bất kỳ cam kết nào được ký, dù được gọi tên hoặc mô tả thế nào, để chuẩn bị cho việc thanh toán dựa trên một xuất trình phù hợp”.TS Tô Ngọc Hưng (Học viện Ngân hàng) trong cuốn Giáo trình Tín dụng Ngân hàng (Nhà xuất bản lao động-xã hội năm 2019) có viết: “Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ Ngân hàng, theo đó, ngân hàng thương mại sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh để bảo lãnh cho bên được bảo lãnh thực hiện một nghĩa vụ đã được quy định từ trước. Ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm trả tiền theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh khi điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh được đáp ứng.
Trách nhiệm này là không hủy ngang trừ khi có sự chấp thuận của bên nhận bảo lãnh. Sau khi thanh toán cho 6 bên nhận bảo lãnh, NHTM có quyền truy đòi bên được bảo lãnh và bên được bảo lãnh có nghĩa vụ phải bồi hoàn cho NHTM số tiền trả thay.” Những phân tích trên cho thấy: cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về Bảo lãnh ngân hàng, thậm chí việc sử dụng tên gọi trong các công trình nghiên cứu của các tác giả mà em tìm hiểu cũng khác nhau như: BLNH, bảo lãnh độc lập, bảo lãnh trả tiền ngay, thư tín dụng dự phòng… hoặc các tên gọi khác nữa nhưng đều nhằm để chỉ cam kết giữa hai bên, một bên là người phát hành bảo lãnh, gọi là người bảo lãnh (Guarantor), và một bên là người thụ hưởng bảo lãnh (Beneficiary). Trong đó bên bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán một khoản tiền cho người thụ hưởng trong trường hợp người được bảo lãnh (Principal) vi phạm những nghĩa vụ của mình được quy định trọng hợp đồng. Tuy nhiên, nếu hiểu BLNH là một cam kết độc lập không thôi vẫn chưa đủ, vì vậy để có thể hiểu rõ về BLNH và tìm ra một khái niệm phù hợp về BLNH ta cần tìm hiểu các đặc điểm, vai trò cũng như phân loại BLNH.
Phân loại bảo lãnh Theo Giáo trình Tín dụng Ngân hàng NGND.TS Tô Ngọc Hưng chủ biên xuất bản năm 2019 (Trang 543-552) Bảo lãnh Ngân hàng được phân loại như sau: Theo mục đích: - Bảo lãnh vay vốn: Ngân hàng cam kết với bên cho vay sẽ chịu trách nhiệm trả thay nếu bên đi vay không trả nợ đúng hạn nợ vay (gốc và lãi) ngay khi người cho vay thông báo là khoản nợ còn lại chưa được trả đúng như đã ký kết và yêu cầu ngân hàng thanh toán mà không có sự kiểm tra nào. - Bảo lãnh dự thầu: Thông thường đối với những hợp đồng lớn, đặc biệt là những hợp đồng xây dựng, thiết kế hay cung cấp thiết bị thì người chủ công trình thường lựa chọn đối tác thi công thông qua đấu thầu. Mục đích của bảo lãnh đấu thầu là bảo đảm cho bên dự thầu không rút lui, từ bỏ việc ký hợp đồng hay thay đổi ý định khi đã được trúng thầu. Nếu bên dự thầu đã trúng thầu không những không ký thì bên thụ hưởng sẽ rút tiền thanh toán từ bảo lãnh để trang trải những chi phí đấu thầu thiệt hại do chậm trễ tiến độ thi công hay chi phí để tổ chức lại một cuộc đấu thầu khác.
7 - Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: cung cấp một bảo đảm cho bên thụ hưởng về việc thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh. Trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện đúng, đầy đủ những nghĩa vụ đã được ghi trong hợp đồng thì bên thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán bảo lãnh. - Bảo lãnh thanh toán: hoàn toàn có thể được sử dụng như một phương tiện đảm bảo thanh toán trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài chính, hợp đồng tài chính, hợp đồng xây dựng… Đây là một trong những loại bảo lãnh rất phổ biến ở các nước đang phát triển và có thể được sử dụng thay thế cho tín dụng chứng từ với mục đích đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán, tuy nhiên, bảo lãnh thanh toán khác tín dụng chứng từ về điều kiện thanh toán và cơ chế vận hành. - Bảo lãnh miến khấu trừ giá trị hóa đơn: Ngân hàng bảo lãnh cam kết với bên mua về việc thanh toán số tiền khấu trừ giá trị hợp đồng trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng.
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước (bảo lãnh hoàn thanh toán): Thông thường với những hợp đồng thương mại có giá trị lớn, để giúp bên bán (nhà xuất khẩu) có vốn đặt hàng và nhanh chóng giao hàng cho bên mua (nhà nhập khẩu), trong hợp đồng thương mại ký kết giữa hai bên thường quy định một điều khoản thỏa thuận bên mua ứng trước cho bên bán một số tiền (gọi là tiền đặt cọc). Số tiền này thường bằng 5- 10% giá trị hợp đồng. - Bảo lãnh Hải quan: trong trường hợp hàng hóa được nhập khẩu vào một quốc gia nào đó nhằm mục đích trưng bày tại triển lãm, hay tham dự hội chợ… trong một khoảng thời gian nhất định rồi sẽ tái xuất khẩu thì thường không phải nộp thuế nhập khẩu. Do vậy Hải quan của nước mà hàng hóa được tạm nhập, tái xuất yêu cầu chủ hàng phải có một bảo lãnh nhằm đảm bảo rằng nếu quá thời hạn đã đăng ký mà hàng hóa đó không tái xuất thì cơ quan Hải quan sẽ rút tiền thanh toán từ thư bảo lãnh để phục vụ cho việc nộp thuế nhập khẩu và tiền phạt.
- Bảo lãnh Hối phiếu: Đây là sự cam kết của ngân hàng trả tiền cho người thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn trả tiền mà bên đề nghị cấp bảo lãnh không trả hoặc trả không đủ. Hình thức thông thường của bảo lãnh hối phiếu có thể được ghi trên chính hối phiếu hoặc một chứng thư riêng biệt thường gọi là bảo lãnh mật. Nếu ghi trên hối phiếu thì ngân hàng đứng ra bảo lãnh phải ghi thêm chữ “được bảo lãnh”. Nếu dưới 8 hình thức chứng thư riêng thì phải ghi rõ địa điểm cấp bảo lãnh, các yếu tố có liên quan đến hối phiếu, số tiền và thời hạn đảm bảo… Theo phương thức phát hành bảo lãnh: - Bảo lãnh trực tiếp (Direct Guarantee): là hình thức bảo lãnh trong đó ngân hàng chịu trách nhiệm phát hành bảo lãnh trực tiếp theo yêu cầu của bên được bảo lãnh (không qua trung gian).
Sau khi ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo hợp đồng cho bên thụ hưởng bảo lãnh (bên nhận bảo lãnh), ngân hàng có thể trực tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh. Quy trình bảo lãnh trực tiếp Bên yêu cầu Bên nhận bảo bảo lãnh Hợp đồng cơ sở lãnh Chỉ thị phát hành BL Phát hành bảo lãnh Ngân hàng bảo lãnh (Nguồn: Giáo trình Tín dụng Ngân hàng - HVNH) - Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh mà theo yêu cầu của bên được bảo lãnh, ngân hàng thứ nhất ủy nghiệm cho một ngân hàng thứ 2 ở nước bên thụ hưởng hoặc một ngân hàng trung gian khác mở tiếp bảo lãnh. Bảo lãnh này có lợi cho bên thụ hưởng do họ được thuận tiện hơn trong giao dịch hoặc đòi tiền sau này. Quy trình Bảo lãnh gián tiếp 4b Ngân hàng phát hành Ngân hàng thông báo 3 4a Ngân hàng chỉ thị 4b 2 1 Bên được BL Bên thụ hưởng (Nguồn: Giáo trình Tín dụng Ngân hàng-HVNH) 9 - Đồng bảo lãnh: Khi bảo lãnh cho những hợp đồng kinh tế, những dự án có giá trị lớn, để phân tán rủi ro hoặc không bị vi phạm các giải pháp về các giới hạn về đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng có thể thực hiện đồng bảo lãnh.
Khi đó một ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng đầu mối phát hành bảo lãnh mời các ngân hàng khác tham gia bảo lãnh (gọi là ngân hàng thành viên). Các ngân hàng thành viên cam kết chịu trách nhiệm theo từng phần đóng góp của mình bằng các bảo lãnh đối ứng. Khi Ngân hàng đầu mối đã thanh toán cho bên thụ hưởng thì có quyền truy đòi các ngân hàng thành viên tham gia đồng bảo lãnh số tiền mà họ đã cam kết. - Xác nhận bảo lãnh (Confirm Guarantee): là một bảo lãnh Ngân hàng do một ngân hàng (ngân hàng xác nhận) phát hành cho bên thụ hưởng về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng phát hành thư bảo lãnh (ngân hàng được xác nhận).
Trường hợp phát hành thư bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình như đã cam kết với bên thụ hưởng thì ngân hàng xác nhận sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho ngân hàng bảo lãnh. Theo điều kiện thanh toán: - Bảo lãnh theo yêu cầu: là loại bảo lãnh mà trong đó việc thanh toán sẽ được thực hiện ngay sau khi nhận được yêu cầu đầu tiên bằng văn bản của bên thụ hưởng mà không cần bất cứ một chứng từ hay một tờ giấy nào kèm theo. Ngân hàng xem đó như một lệnh thanh toán không thể từ chối.