Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢO, HIỆU LỰC CỦA ĐẢO VÀ VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN 1. Khái niệm đảo, quần đảo 1. Khái niệm đảo Tồn tại rất nhiều các khái niệm về đảo trên các phương diện khoa học khác nhau. Một khái niệm đơn giản thì “Đảo hay hòn đảo là phần đất được bao quanh hoàn toàn bởi nước nhưng không phải là một lục địa; tuy vậy, không có một kích thước chuẩn nào để phân biệt giữa đảo và lục địa”.
Về phương diện khoa học địa lý thì đảo là: Phần đất bị bao bọc xung quanh bởi nước, thường xuyên nhô lên cao, không bị ngập khi mực nước thủy triều lên cao nhất. Nguồn gốc hình thành đảo có thể là một phần của lục địa do quá trình tách dần và lún xuống gây ra như các đảo Nhật Bản, Malaysia, Indonesia, SriLanka… hoặc do hoạt động dưới núi lửa tạo thành như Hawai… Có các đảo với nhiều dạng và các kích cỡ từ đảo san hô cho đến đảo lục địa. Nhiều đảo đơn độc hay tụ hợp lại thành quần đảo hay kéo dài thành vòng cung đảo. Đảo có thể là lục địa nếu nó nằm trên thềm lục địa và đai dương, nếu có thể tách rời lục địa bằng một bồn vực hay một bồn trũng đại dương.
Trong các loại này ta phân biệt chằng hạn như các quần đảo Thái Bình Dương, các đảo cao, núi nguồn gốc từ núi lửa, các đảo thấp nguồn gốc san hô, đảo san hô gần các đầm phà khép kín, đảo nhân tạo… Các khái niệm nêu trên và kế thừa sự phát triển của các quy định trong lịch sử đã góp phần để xây dựng khái niệm thống nhất về Đảo trên phương diện pháp lý tại Công ước Luật biển năm 1982. * Khái niệm về Đảo trước Công ước 1958 Lần đầu tiên khái niệm về đảo được nhắc đến một cách chính thức là tại 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hội nghị pháp điển hóa La Hay 1930. Theo đó, các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra khái niệm về đảo đó là: “Một vùng đất có nước bao bọc xung quanh thường xuyên ở mực nước cao”. Khái niệm này còn hết sức sơ lược và chưa thể khái quát hết được các yếu tố cấu thành đảo mà chủ yếu vẫn dựa vào các khái niệm vật lý tự nhiên và chỉ xét trên các yếu tố như v ng đất có nước bao bọc, thường xuyên trên mực nước cao… Tại thời điểm đó đảo cũng như quy chế pháp lý về đảo chưa được các quốc gia hay các nhà khoa học pháp lý quan tâm.
* Khái niệm về đảo trong Công ước 1958 Tại Hội nghị Geneve 1958 các quốc gia đã thống nhất đưa ra khái niệm về đảo: “Đảo là vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc khi thủy triều lên vùng đất này vẫn nổi trên mặt nước”. Khái niệm này đã phát triển cao hơn so với khái niệm tại Hội nghị pháp điển hóa La Hay 1930 và ph hợp với tình hình phát triển khoa học kỹ thuật của các quốc gia trên thế giới theo hướng có khả năng xây dựng các công trình nhân tạo trên biển nhằm mục đích chiếm hữu lãnh thổ. * Khái niệm về đảo trong Công ước 1982 Khái niệm về đảo trong Công ước 1982 tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Luật Biển lần thứ 3 đã kế thừa các khái niệm về đảo từ Hội nghị pháp điển hóa La Hay 1930 và Công ước 1958, đồng thời bổ sung các vấn đề về hình thành v ng đặc quyền kinh tế và nguồn gốc hình thành đảo. Khái niệm này đã bao quát được sự phát triển về khoa học kỹ thuật cũng như kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
Khái niệm này được quy định tại Điều 121 của Công ước 1982: Chế độ các đảo 1. Một đảo là một v ng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên v ng đất này vẫn ở trên mặt nước. Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, v ng tiếp giáp, v ng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác. Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có v ng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa [16, Điều 121].
Như vậy, khoản 1 Điều 121 là sự kế thừa đối với những khái niệm đã đước xây dựng từ trước đó. Mặt khác, điểm mới và đặc biệt tiến bộ của Công ước 1982 là tại Khoản 2 Điều 121 đã đề cập đến việc một đảo nếu thỏa mãn các điều kiện tại khoản 3 thì sẽ có địa vị pháp lý một cách đầy đủ có nghĩa là đảo đó sẽ có v ng lãnh hải, v ng tiếp giáp lãnh hải, v ng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các v ng biển này sẽ được xác định như đúng với lãnh thổ đất liền theo các quy định của Công ước; Khoản 3 Điều 121 đã đưa ra sự phân biệt đối với một đảo bình thường và một đảo đá. Theo đó, nếu một đảo không thích hợp cho người đến sinh sống và không có đời sống kinh tế riêng có nghĩa nó sẽ là đảo đá và chỉ có v ng lãnh hải và v ng tiếp giáp lãnh hải chứ không có v ng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Quy định này là căn cứ xác định v ng biển đối với một hòn đảo thông thường và đảo đá; giải quyết được nhiều tranh cãi giữa các quốc gia trong các trường hợp lợi dụng đảo đá yêu sách đòi chủ quyền đối với các v ng biển. Khái niệm quần đảo Theo Công ước Luật biển 1982: Quần đảo là một nhóm các đảo, bao gồm các bộ phận của các đảo, các v ng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử [16, Điều 46, Khoản 2]. Trong quy chế dành cho quần đảo dường như cũng nhấn mạnh đến sự 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện diện chủ yếu của “đảo” và các bộ phận hữu cơ của đảo; đối với các thực thể khác trong quần đảo, lại được tập trung vào mối liên hệ của chúng với đảo và bộ phận của đảo hơn là sự hiện diện mang tính độc lập này. “Quốc gia quần đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có thể bao gồm một số hòn đảo khác” [16, Điều 46, khoản 1].
Quốc gia sở hữu một tổng thể các quần đảo có thể được coi là một quốc gia quần đảo, được hoạch định các v ng biển giống như đối với các quốc gia ven biển khác, chỉ khác biệt ở khả năng sử dụng đường cơ sở thẳng nối các điểm là các đảo ở tận ngoài khơi xa với những điều kiện theo quy định Công ước. Điều này khiến cho quốc gia quần đảo có được v ng nước quần đảo phía trong đường cơ sở rất rộng lớn. Các yếu tố tạo thành đảo, phân loại đảo 1. Các yếu tố tạo thành đảo Khi Công ước 1982 có hiệu lực thi hành đã góp phần giải quyết các tranh chấp về đảo và nó cũng trở thành cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia xác định chủ quyền cũng như xác định các v ng biển của đảo đó.
Tuy nhiên, cần phải đi sâu phân tích các yếu tố tạo thành đảo do có sự khác biệt rất lớn về địa vị pháp lý giữa đảo đá và đảo thông thường. Vì vậy, việc xác định một đảo có đáp ứng với điều kiện tại khoản 3 Điều 121 Công ước 1982 hay không có một ý nghĩa quan trọng. Đầu tiên, ta phân tích khoản 1 Điều 121, đảo là một “v ng đất hình thành tự nhiên”: - Một vùng đất “Yêu cầu đảo theo nghĩa pháp lý phải là một v ng đất đã được ghi nhận từ lâu. Như đã phân tích ở trên yêu cầu này có hai yếu tố.
Thứ nhất, v ng đất đó phải gắn tự nhiên với đáy biển. Thứ hai, v ng đất đó phải tồn tại thường xuyên trên mặt biển. Hay nói một cách khác, khi nói đảo là “một v ng đất” thì cũng có nghĩa là đảo không thể là vật thả trôi hay là các tảng băng mà phải 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gắn hữu cơ với đáy biển. Cả Khoản 1 Điều 10 của Công ước 1958 về Lãnh hải và V ng tiếp giáp và Khoản 1 Điều 121 của Công ước Luật Biển 1982 c ng thống nhất khẳng định đảo phải là v ng đất tự nhiên.
Như vậy, cả hai Công ước đều quy định thành phần cấu tạo địa chất của đảo là một tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo” [9]. Từ cơ sở những khái niệm về khoa học địa lý mà Công ước 1982 đã đưa ra những khái niệm về mặt pháp lý trước hết đảo phải là một v ng đất và nó phải gắn liền với đáy biển, khác với các vật thể trôi. Yếu tố cần xem xét kế tiếp là nguồn gốc hình thành của đảo. Theo quy định tại khoản 1 Điều 121 Công ước 1982 nhất thiết đảo phải có nguồn gốc hình thành từ tự nhiên.
- Nguồn gốc tự nhiên “Trước Hội nghị của Liên hợp quốc về luật biển lần I, yếu tố đảo phải là một v ng đất hình thành tự nhiên chưa được coi là một tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo. Tại Hội nghị Pháp điển hóa Luật pháp quốc tế La Hay năm 1930, một số nước như Pháp, Đức vẫn còn đề nghị dành cho các cấu trúc nhân tạo quy chế đảo. Hội nghị không chấp nhận đề nghị này và không dành quy chế đảo cho các đảo nhân tạo. Tuy vậy, Hội nghị cũng không loại đảo nhân tạo ra khỏi khái niệm đảo.
Báo cáo của Ủy ban Luật pháp quốc tế của Liên hợp quốc năm 1954 còn đề nghị các bãi cạn nửa nổi, nửa chìm có nhà cửa xây dựng ở trên cũng được hưởng quy chế đảo. Đề nghị này không được thông qua, nhưng các thành viên của Ủy ban cũng không không ủng hộ việc đòi hỏi đảo nhất thiết phải là v ng đất tự nhiên. Ủy ban đã thông qua đề nghị của ông S. Lauterpacht là: “Đảo phải thường xuyên ở trên mức nước cao trong các hoàn cảnh bình thường”.