đặt vấn đề chấm dứt hôn nhân. Theo đó, ly hôn thường căn cứ vào lỗi của một bên đương sự. Lỗi là yếu tố quyết định cuộc hôn nhân đó có thể tồn tại được hay không và ai là người có quyền xin ly hôn. Như vậy, không cần quan tâm tới tình trạng cuộc hôn nhân, cuộc sống của một gia đình trong một thời gian đã diễn ra như thế nào, mà chỉ cần một bên có lỗi, cuộc hôn nhân đó có thể chấm dứt.
Như vậy, ly hôn không được phản ánh đúng bản chất của nó. Có thể thấy, bản chất pháp lý của ly hôn trong pháp luật HN&GĐ phong kiến và tư sản không được xem xét, đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện. Đối lập với pháp luật phong kiến và tư sản, dưới chế độ XHCN pháp luật đã thể hiện tính ưu việt của nó trong vấn đề ly hôn. Đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật XHCN không coi hôn nhân là một hợp đồng dân sự hay một khế ước dân sự mà coi hôn nhân là sự tự nguyện của hai bên nam - nữ, là sự liên kết suốt đời giữa vợ và chồng, vì thế ly hôn cũng là một lối thoát khi cuộc hôn nhân mà họ đã chọn là thực sự sai lầm.
Bởi vì, bản chất của ly hôn “chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân này chỉ là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” [3, tr. Như vậy, bản chất của ly hôn là sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, là chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Pháp luật của nhà nước XHCN công nhận và tôn trọng quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền tự do ly hôn.
Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ yêu nhau và kết hôn với nhau thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng sống phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó không còn, mục đích của cuộc hôn nhân đã không đạt được. Khi ấy, ta không thể nhìn nhận ly hôn đơn thuần chỉ là mặt tiêu cực, mà cần phải nhận thức được rằng nó là mặt trái nhưng là mặt không thể thiếu được của quan hệ hôn nhân. Nếu như cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ và ly hôn đã trở thành mong muốn của vợ chồng thì việc ghi nhận quyền tự do ly hôn là hoàn toàn chính đáng thể hiện tính chất dân chủ và nhân đạo của pháp luật XHCN bởi vì : “Tự do ly hôn tuyệt đối không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” [15, tr. Hơn nữa, cũng cần phải ghi nhận rằng, tự do ly hôn là một quyền cơ bản và bình đẳng giữa vợ và chồng, bởi đây là quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân là xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, bền vững và hạnh phúc. Nhưng vì lí do nào đó mà giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, khiến cho tình nghĩa vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa thì ly hôn là biện pháp cần thiết để giải phóng cho họ. Khi xây dựng Luật HN&GĐ năm 1959, đồng chí Xuân Thủy đã phân tích: “ hôn nhân bao 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gồm hai mặt: tự do kết hôn và tự do ly hôn. Tự do ly hôn không có nghĩa là ly hôn bừa bãi, ly hôn là biện pháp giải phóng một tình trạng trầm trọng làm cho đôi vợ chồng không thể sống chung được nữa” Như vậy, bản chất pháp lý của ly hôn là sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Pháp luật phong kiến và tư sản thường quy định việc ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng, việc xét xử ly hôn của Tòa án dựa trên ý chí của các bên đương sự nên mới chỉ dừng lại ở mặt hiện tượng mà chưa nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất của quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Chỉ dưới chế độ XHCN, các nhà làm luật mới nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng và bản chất của cuộc hôn nhân để xem xét và quyết định hợp tình, hợp lý yêu cầu ly hôn của vợ, chồng. Hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ chồng 1. Khái niệm hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ chồng Theo quy định tại điều 52, Luật HN&GĐ năm 2014 : “Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật”.
Thời điểm có hiệu lực của bản án hoặc quyết định cho ly hôn chính là thời điểm có hiệu lực của việc ly hôn, hay nói cách khác chính là thời điểm có hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ chồng. Bản án hoặc quyết định cho ly hôn có tác dụng thiết lập một tình trạng pháp lý mới không tồn tại trước đó cũng như thiết lập các quyề n mới của bên này hoă ̣c bên kia. Đó chính là việc giải quyết các hệ quả pháp lý của ly hôn tại Tòa án như quan hệ nhân thân, tài sản, con chung của vợ chồng cũng như việc thực hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong thực tế sau khi vợ chồng ly hôn. Có lẽ không có vấn đề gì đặc biệt liên quan đến thời điểm có hiệu lực của ly hôn trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng bởi chính các đương sự là người đầu tiên được biết về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa họ.
Thậm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chí trong hầu hết trường hợp, các đương sự đã không còn coi nhau như vợ chồng từ khi cùng nhau ký vào đơn xin ly hôn. Tuy nhiên, việc ly hôn chỉ có tác dụng chấm dứt chứ không xóa bỏ quan hệ vợ chồng đã tồn tại trước đó. Có nghĩa là, các vấn đề liên quan đến hệ quả về tài sản, con chung đối với vợ chồng khi bản án, quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật cần phải được xem xét, giải quyết. Và khi bản án, quyết định cho ly hôn có hiệu lực thì việc thực hiện bản án, quyết định cho ly hôn đó trong thực tế phải được tôn trọng bởi các bên đương sự và các bên có liên quan.
Như vậy, hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ, chồng có thể được hiểu là thời điể m bản án hoă ̣c quyế t đinh ̣ cho ly hôn có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t dẫn tới các hệ quả pháp lý của quan hệ vợ chồng bao gồm: quan hệ nhân thân, tài sản giữa vợ và chồng, việc giải quyết vấn đề về con chung, việc cấp dưỡng giữa vợ chồng và việc thực hiện bản án, quyết định cho ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực trong thực tế. Ý nghĩa của việc xác định hiệu lực pháp lý của ly hôn Ly hôn là một trong những quyền cơ bản của con người, việc Nhà nước thừa nhận chế định ly hôn trong pháp luật là thể hiện sự đảm bảo cũng như tôn trọng quyền tự do định đoạt của vợ chồng, giúp họ giải quyết những bế tắc, xung đột trong đời sống hôn nhân. Nhà nước kiểm soát ly hôn bằng pháp luật, mặc dù Nhà nước thừa nhận ly hôn là quyền dân sự gắn liền với nhân thân vợ chồng song cũng cần phải hiểu rõ về bản chất rằng đây không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước sẽ thực hiện quyền kiểm soát đối với hôn nhân nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực mà ly hôn để lại.
Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng phải dựa vào thực chất quan hệ vợ chồng và phải phù hợp với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định. Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về căn cứ ly hôn, trường hợp ly hôn, về trình tự thủ tục ly hôn, về việc giải quyết hậu quả ly hôn. Do đó nếu vợ chồng muốn 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được ly hôn phải tuân thủ các điều kiện, căn cứ ly hôn và các trình tự thủ tục ly hôn theo luật định. Mọi trường hợp vợ chồng xin ly hôn chỉ khi xét thấy có căn cứ ly hôn theo luật định là quan hệ vợ chồng đã đến mức “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” thì Tòa án mới giải quyết cho ly hôn.
Việc quy định về ly hôn nói chung và hiệu lực của ly hôn đối với vợ chồng nói riêng đã tạo nền tảng vững chắc cho việc giải quyết các hậu quả pháp lý phát sinh sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Đó là các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, quan hệ cấp dưỡng giữa vợ, chồng, việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con…Khi bản án hoặc quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, vợ hoặc chồng có quyền chung sống, kết hôn với người khác mà người vợ hoặc chồng còn lại không có quyền can thiệp, cản trở. Tài sản chung giữa vợ, chồng (nếu có) cũng sẽ được phân chia cho mỗi bên, tức là không còn tồn tại tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Các khoản nợ, khoản cho vay chung cũng được giải quyết.
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của ly hôn còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định ai sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng con cái (trong trường hợp con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự). Bởi lẽ, khi vợ chồng ly hôn, việc sống chung không còn, do đó, con chung cũng cần phải được xác định sẽ do ai là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, ai là người sẽ chịu trách nhiệm cấp dưỡng.