Chương 1 CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 1. Tổng quan về di chúc theo pháp luật dân sự Điều 646 Bộ luật Dân sự quy định: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết" [17]. Di chúc còn được gọi là chúc thư do cá nhân còn sống tự nguyện lập ra với mục đích dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người còn sống khác, sau khi người lập di chúc chết. Người lập di chúc dựa vào ý chí và tình cảm của mình (mang tính chủ quan) định đoạt cho người khác được hưởng di sản sau khi qua đời.
Do tính chất chủ quan của ý chí và mục đích chuyển dịch tài sản của người lập di chúc cho người khác hưởng sau khi chết đã phản ánh tính độc lập và tự định đoạt của người lập di chúc. Di chúc theo quy định của pháp luật dân sự phải nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi người lập di chúc chết. Xét về tính chất của giao dịch dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phường, hoàn toàn độc lập, tự định đoạt ý chí của cá nhân người lập di chúc mà không có bất kỳ ý kiến của ai, do vậy di chúc là giao dịch dân sự một bên. Giao dịch này là loại giao dịch đặc biệt, tuy các điều kiện của chủ thể lập di chúc, ý chí của chủ thể, nội dung và hình thức của di chúc đều phù hợp với quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc nhưng di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thi hành sau khi người để lại di chúc chết.
Người được hưởng thừa kế theo di chúc chỉ có quyền nhận tại sản của người lập di chúc kể từ khi người lập di chúc chết. Người thừa kế theo di chúc nhận di sản và là chủ sở hữu của di sản được hưởng và thừa kế theo di chúc là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của người thừa kế. Tuy nhiên, di chúc thể hiện ý chí chủ quan của người lập, do đó ý định của người lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chết có thể không thể thực hiện được do tài sản được định đoạt trong di chúc đã không còn vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc đó hoặc những người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc đã chết trước, chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đều không có quyền hưởng di sản,… tại các trường hợp này, mục đích nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người thừa kế không đạt được. Phần của di chúc không thể thực hiện được là phần di chúc vô hiệu.
Điều kiện có hiệu lực của di chúc 1. Di chúc do cá nhân lập Di chúc là một loại giao dịch đặc biệt, chỉ có hiệu lực khi người lập ra nó đã chết nên việc lập di chúc không thể thực hiện bằng cách ủy quyền cho người khác thay mình lập. Trước hết, di chúc muốn được coi là hợp pháp thì phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch đã được quy định tại Điều 122. Ngoài ra, nó còn phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của di chúc, quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự.
Điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp a) Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể Người lập di chúc theo quy định tại Điều 647 Bộ luật Dân sự phải là người từ đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc. Pháp luật nước ta công nhận người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Vì vậy không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo,…người từ đủ mười tám tuổi không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế.
Lập di chúc là việc chủ sở hữu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài sản quyết định chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho những người cụ thể sau khi mình chết. Điều đó đòi hỏi người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sự phù hợp giữa nhận thức lý trí của một người với hành vi mà họ thực hiện. Theo quy định của pháp luật thì người đã thành niên có quyền lập di chúc (trừ những người không có năng lực hành vi dân sự) nhưng pháp luật lại không quy định rõ người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Dân sự "Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự" khi lập di chúc có phải hỏi ý kiến và phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người đó hay không? Vì theo khoản 2 Điều 23 Bộ luật Dân sự quy định: ". giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày" [17].
Như vậy, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự thì những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Dân sự vẫn có quyền lập di chúc với tư cách của người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, nếu xét theo quy định tại khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự thì: một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã bị hạn chế theo bản án có hiệu lực pháp luật thì khi người đó xác lập giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện. Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo bản án có hiệu lực, khi lập di chúc mà không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật thì di chúc do người đó lập ra có hiệu lực hay không có hiệu lực pháp luật? Không thống nhất về cách hiểu sẽ gây ra những sai sót trong việc xác định chủ thể có quyền lập di chúc và tính hợp pháp khi định đoạt ý chí của người lập di chúc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về nguyên tắc, chỉ những người đủ mười tám tuổi trở lên mới có quyền lập di chúc.
Tuy nhiên, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi (người có năng lực hành vi dân sự một phần) - dù chưa thành niên nhưng đã có sự nhận thức nhất định, trong một số trường hợp, họ có thể đã có tài sản riêng, có thể lập di chúc nhưng với điều kiện là "lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý". Sự đồng ý này chưa được một văn bản pháp luật nào quy định hay giải thích cụ thể nên có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo ý kiến cá nhân em, sự đồng ý ở đây được hiểu là sự đồng ý cho họ lập di chúc. Còn về nội dung di chúc, họ được toàn quyền quyết định.
Vì nếu hiểu theo nghĩa: sự đồng ý với việc định đoạt trong nội dung của di chúc thì vô hình chung, pháp luật đã can thiệp đến quyền định đoạt, đến ý chí tự nguyện của người lập di chúc - trong khi ý chí tự nguyện là một trong những điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp. Tuy nhiên, để có sự rõ ràng, thống nhất trong cách hiểu của người dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có quy định cụ thể: Sự đồng ý hay không đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc lập di chúc của người từ tròn mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được thể hiện trước khi di chúc được lập bằng một văn bản riêng. Nếu di chúc đã được lập mà những người nói trên không có ý kiến gì thì coi như họ đã đồng ý cho lập và vì vậy, di chúc được coi là hợp pháp. Cha, mẹ hoặc người giám hộ có quyền giám sát và chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu nếu họ phát hiện có hành vi lừa dối, cưỡng ép người chưa thành niên trong việc lập di chúc mà không được tự mình hủy bỏ di chúc.
b Người lập di chúc tự nguyện Tự nguyện hiểu theo nghĩa khái quát: là việc thực hiện theo ý mình, do mình mong muốn, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ chủ thể nào khác. Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tự nguyện của người lập di chúc được hiểu là sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí của họ. Sự thống nhất trên chính là sự thống nhất giữa mong muốn chủ quan - mong muốn bên trong của người lập di chúc với hình thức thể hiện ra bên ngoài sự mong muốn đó.
Vì vậy, việc phá vỡ sự thống nhất giữa mong muốn bên trong và việc thể hiện ra bên ngoài làm mất đi tính tự nguyện của người lập di chúc. Sự thống nhất này có thể bị phá vỡ trong trường hợp người lập di chúc bị cưỡng ép, đe dọa hoặc di chúc do họ lập trên cơ sở bị lừa dối. Di chúc sẽ không được coi là hợp pháp nếu không có sự thống nhất giữa các vấn đề đã được thể hiện trong nội dung của bản di chúc với ý chí chủ quan của người lập ra nó. Cụ thể, sẽ bị coi là không có sự thống nhất nói trên nếu di chúc được lập ra trong những trường hợp sau: - Di chúc được lập ra khi người lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt Khi người lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt để làm chủ được hành vi của mình thì không thể có sự thống nhất giữa mong muốn về ý chí với sự biểu đạt ý chí ấy.
Trong trường hợp này, người lập di chúc bị coi là không còn năng lực hành vi dân sự trong khi lập di chúc.