Đặt vấn đề Hiện nay, nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã là nguyên nhân làm gia tăng việc săn bắn và buôn bán các loài động vật trái phép, đây các loài động vật hoang dã đến bờ vực tuyệt chủng. Tại Việt Nam, nhiều loài động vật hoang dã đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng đo bị buôn bán và tiêu thụ bất hợp pháp vì nhiều mục đích khác nhau như làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ trang sức. Các cơ sở gây nuôi hiện nay đã được đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ nhờ các chính sách và chế tài bảo vệ động vật hoang dã. Trên phương diện quốc tế, đã có Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) quy định thê chế luật pháp đối với tình trạng buôn bán động vật hoang dã ở các nước.
Gây nuôi các loài động vật là một trong những cơ hội cũng như là thách thức lớn đối với các bên liên quan. Dịch Covid-19 ảnh hưởng rất lớn đến các cơ sở gây nuôi trên cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng. Dịch Covid-19 tác động và làm thay đôi việc gây nuôi DVHD của các bên có liên quan, gây ra nhiều mặt khó khăn. Quan lý cơ sở gây nuôi động vật hoang da tại tỉnh Bình Dương và cũng như các tỉnh khác được quản lý trên một phần mềm chung của cơ quan tổ chức nhà nước.
Phần mềm không thé chia sẽ rộng rãi trên mọi phương diện. Chính vi thé dé tài thé hiện các phần mềm quản lý như Mapinfo, Google Earth, Microsoft Access, Microsoft Excel, Locus map nhằm phổ biến và chia sẽ cho các cơ sở gây nuôi dé dang tự quan và cập nhật thông tin nếu có thay đổi cho cơ quan tổ chức nhà nước. Cập nhật thông tin các cơ sở gây nuôi phải thực hiện liên tục vì vậy cơ quan nhà nước phải năm bắt được hiện trạng các cơ sở gây nuôi. Nên các phân mêm được đưa ra phục vụ cho người dùng, từ đó cập nhật thay đổi liên tục và thuận tiện cho các bên liên quan.
Các cuộc khảo sát cũng chỉ ra rằng có những thay đổi, không chỉ về số lượng động vật, số loài được gây nuôi mà cả số lượng các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã, ví dụ như số lượng các cơ sở không hoạt động hoặc các cơ sở mới được thành lập. Chính vì vậy, cơ sở dữ liệu về gây nuôi động vật hoang dã phải được cập nhật hàng năm hoặc nửa năm. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu các thông tin của các cơ sở gây nuôi trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm mục đích theo dõi hoạt động gây nuôi trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Từ đó đề tài: “Hiện trạng gây nuôi động vật hoang da và bản đồ phân bố vị trí cơ sở gây nuôi trên địa bàn tỉnh Bình Dương” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu - Điều tra, đánh giá hiện trạng gây nuôi các loài DVHD trên địa bàn tinh Bình Dương. - Các yếu tổ tác động đến gây nuôi cũng như ảnh hưởng bởi dich Covid-19. - Thu thập dữ liệu tạo nền tảng xây dựng bản đồ vị trí phân bố cơ sở gây nuôi DVHD. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các cơ sở gây nuôi DVHD trên địa bàn tinh Bình Dương.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 09 năm 2022 đến 02 năm 2023, được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chương 2 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu DVHD tại Việt Nam và Thế giới 2. Tình hình nghiên cứu DVHD tại Việt Nam Có 1.729 loài động vật, côn trùng hoang dã thuộc 238 họ, 52 bộ động vật.
Trong đó, có nhiều loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam. Lớp Thú có 85 loài thuộc 27 họ, 10 bộ; trong đó có 36 loải quý hiểm. Lớp Chim có 259 loài thuộc 52 họ, 18 bộ. Bò sát có 64 loài thuộc 13 họ, 02 bộ.
Éch nhái có 33 loài thuộc 05 họ, 01 bộ. Cá có 99 loài định danh thuộc 29 họ và 11 bộ.241 loài thuộc 112 họ, 10 bộ. Trên trường quốc tế, Việt Nam hiện được đánh giá là “điểm trung chuyên” và “điểm đến” (tiêu thụ) của các loài DVHD. Trong báo cáo đánh giá việc tuân thủ và thực hiện cam kết CITES về Hồ, Tê giác và Voi tại 23 quốc gia trong số nhiều quốc gia được coi là có sự phan bó, trung chuyền hoặc tiêu thụ các loài này, tô chức WWF đã đánh giá Việt Nam là một trong các quốc gia có việc thực thi đáng lo ngại nhất với thẻ màu đỏ đối với hai loài Tê giác và Hồ.1: Tình hình số lượng một số loài thú quý hiểm ở Việt Nam STT Loài Thời gian điều tra Trước năm 1970 (cá thé) Năm 1999 (cá thê) (1) (2) (3) (4) 1 Tê giác 1 sừng Is ~ 17 3~7 2 Voi 1.000 150 ~ 200 (Nguon: Chương trình hỗ trợ Nghanh Lâm nghiệp, 2007) Các loài DVHD là một bộ phận quan trong cấu thành nên đa dạng sinh học của Việt Nam.
Tuy nhiên, số lượng DVHD đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do nạn săn bắt, buôn bán trái phép các loài DVHD. Đặng Huy Huỳnh và cộng sự, 1975. Công trình nghiên cứu “Động vật kinh tế - tinh Hòa Binh’’. Giới thiệu sơ bộ về hình thái phân bó, nơi sống, tập tính, thức ăn, đặc điểm sinh sản và giá tri của các loài động vật có giá tri kinh tế cao của tỉnh Hòa Bình.
Các loài như hươu sao, nai, khỉ vàng, cầy VÒI mốc, cầy vòi hương, nhím, don. Đặng Huy Huỳnh, 1986. Nghiên cứu sinh học và sinh thái các loài thú Móng Guốc ở Việt Nam. Trình bày khái quát đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thú móng guốc có giá trị kinh tế cao của Việt Nam, trong đó có một số loài đang được chăn nuôi.
Kỹ thuật tạo nguồn thức ăn gia súc thông thường. Giới thiệu các loại thức ăn thông thường trong chăn nuôi, kỹ thuật nuôi giun quế, phương pháp xây dựng khẩu phần thức ăn cho lợn. Nguyễn Tuấn Anh, 2018. Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã tại tỉnh Thanh Hóa.
Tác giả điều tra và đánh giá hiện trạng gây nuôi tại tỉnh Thanh Hóa, danh mục loài gây nuôi được tác gia công bố. Đề xuất giải pháp nhằm tăng nguồn lợi cho hoạt động nhân nuôi. Nguyễn Hải Âu, 2018. Nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tinh Phú Tho và đề xuất các giải pháp quản ly.
Tác giả điều tra 18 loài động vật hoang dã được nuôi trên địa bàn tỉnh, trong đó các loài được nuôi pho bién là ran, lợn rừng, lhim. Đưa ra các giải pháp về thị trường, chính sách, vốn, giống trong chăn nuôi DVHD nếu được thực hiện tốt sẽ có tác động quan trọng đến việc phát triển nghề nuôi DVHD tai địa phương. Hoàng Chí Thanh, 2019. Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác gây nuôi DVHD tại tinh Quang Bình.
Luận văn điều tra các mô hình gây nuôi DVHD tại tinh Quang Bình, thành lập danh mục loài trên dia ban tỉnh. Tim hiểu thực trạng và quan lý nhằm hiểu được điểm mạnh điểm yếu. Sau đó tác giả đưa ra những kỹ thuật gây nuôi có lợi đối với một số loài phố biến, giải pháp hiệu quả trong công tác gây nuôi DVHD. Phạm Thu Thủy, Trần Yến Ly, Tăng Thị Kim Hồng, Nguyễn Thị Kiều Nương, Đặng Hải Phương, 2021.
Giá trị kinh tế của hoạt động thương mại liên quan đến động vật hoang dã tại Việt Nam. Đã đưa ra cái nhìn thực tế về thị trường buôn bán DVHD tại Việt Nam, gia tri của các loài DVHD từ mục đích thương mại là rất lớn. Tạo thêm thu nhập, công việc ồn định cho người dân. Những lợi ích từ DVHD mang lại cho con người, tuy nhiên cũng là trở ngại và thử thách cho công cuộc bảo tồn.
Nguồn lợi thu được từ DVHD có cả hợp pháp và bất hợp pháp ảnh hưởng đến bảo tồn. Song song đó thì địch Covid-19 tác động đến kinh tế Việt Nam trong đó có các cơ sở gây nuôi. Tình hình nghiên cứu DVHD trên Thế giới Tại São Tomé Island ở Tây Phi, nghiên cứu 10 cộng đồng nông thôn trong 5 huyện nông thôn chính của hòn đảo từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 9 năm 2012. Tác động của thịt thú rừng đến sinh kế và bảo tồn luôn đi đôi với nhau.
Thịt thú rừng là cung cấp nguồn protein chính cho cư dân rừng nhiệt đới trên khắp thế giới (Wilkie và Carpenter 1999, Milner-Gulland và cộng sự 2003, Bennett và cộng sự 2007). Giá trị bảo tồn cao của hòn đảo có liên quan đến các loài có giá trị đối với những người khai thác địa phương. Ở São Tomé, hầu hết các loài hoang dã được sử dụng làm thực pham đã được đưa vào và có kha năng gây tác động tiêu cực đến hệ sinh thái bản địa (Dutton 1994, Jones và Tye 2005). Tác giả (Mariana Carvalho, Francisco Rego, Jorge M.
Fa, 2015) cho rang việc khai thác các loài tác động đến sự phân bố và phong phú loài tại khu vực, một số loài bị săn bắn vì mục đích thương mại ảnh có thé dẫn đến tuyệt chủng loài. Sinh kế đi liền bảo tồn vì thế rat dé xảy ra suy thoái, mat đi đa dang loai. Tai Rio Muni ở Equatorial Guinea, tac giả (Tamsyn East, Noélle F. Marcus Rowcliffe, 2005) phân tích mức độ tiêu thu và sở thích sử dụng thịt DVHD tại thành phố Bata.
Hoạt động buôn bán thịt DVHD diễn ra rất phổ biến, chính phủ đã đưa ra các biện pháp bảo vệ một số loài nhưng việc buôn bán vẫn diễn ra bat kế tình trạng pháp lý của loài đó đã được công bố. Tác giả nghiên cứu đánh giá các yếu tô liên quan đến việc tiêu thụ DVHD, khảo sát các đối tượng như hộ gia đình, chợ và nhà hàng. Người tiêu dùng ở Bata có xu hướng dùng sản phẩm đông lạnh vì lí do chỉ phí rẻ đáp ứng được sở thích ăn uống của họ và liên quan một phần đến thu nhập. Tai African savannahs, việc săn bắn đang đe dọa đến đa dang sinh học.
van Velden, Kerrie Wilson, Peter A. Lindsey, Hamish McCallum, Boyson H. Moyo & Duan Biggs, 2020) nghiên cứu mức độ phổ biến của việc săn bắn thú rừng và tiêu thụ thịt thú rừng, bằng cách thực hiện 1562 cuộc phỏng vấn tại các cộng đồng phân bó lân cận bốn khu bảo tồn.