ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đang có những khởi sắc, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 4,3%, trong đó sản lượng lương thực tăng 5,8 lần, rau xanh tăng 3,8 lần. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thường xuyên phải nhập khẩu, đến năm 2000 nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, sản xuất rau quả cũng từng bước khẳng định được vị trí quan trọng trong ngành. Trước xu hướng hội nhập với thế giới, việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng đang phát triển theo hướng an toàn, bền vững. Được sự đầu tư của Nhà nước nhiều mô hình sản xuất rau an toàn ở các tỉnh đã tiến hành thực hiện từ năm 1995, đến nay việc sản xuất rau an toàn đã không ngừng được gia tăng trong cả nước.
Một số địa phương đã đầu tư đến hàng chục tỷ đồng để sản xuất rau an toàn trong đó mô hình nhà lưới đã thu được những kết quả đáng khích lệ, người nông dân bước đầu đã nắm được những kiến thức chung về kỹ thuật sản xuất. Song do mô hình quá nhỏ lẻ, manh mún, diện tích rau an toàn chỉ là một phần rất nhỏ trên tổng diện tích trồng rau chuyên canh của từng vùng. Mặt khác do thói quen canh tác ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, người nông dân chỉ ham lợi trước mắt mà không nghĩ đến lợi ích lâu dài, sử dụng các giống quá tuỳ tiện, hiện tượng bón phân và phun thuốc trừ sâu hoá học vẫn còn theo định kỳ. Đến nay sản xuất rau an toàn ở nước ta thực sự vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn, sản phẩm rau hầu như chưa có thương hiệu và chưa thuyết phục được người tiêu dùng.
Tại sao vậy? Đây là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý, -2- nhà khoa học? Liệu có phải là quy trình sản xuất rau an toàn đưa ra mới chỉ có 7 điểm về kỹ thuật trồng trọt không? Vấn đề truy nguyên nguồn gốc giống rau, đất trồng. hoặc giám sát việc thực hiện cũng như liên doanh, liên kết giữa các vùng miền với nhau vẫn chữa được tiến hành. Phải chăng đây là bất cập rất lớn trong sản xuất rau an toàn thời gian qua. Sau một thời gian khảo sát thực tế về sản xuất rau toàn ở 5 huyện ngoại thành Hà Nội.
Trên cơ sở tham khảo tài liệu với mô hình sản xuất rau an toàn thực hiện theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt GAP do Tổ chức bán lẻ Châu Âu (EUREP) đề ra, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng trong sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt GAP”. -3- CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RAU Ở NƯỚC TA 2. Hiện trạng sản xuất rau ở nước ta hiện nay Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người trên khắp hành tinh.
Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ xa xưa, trước cả nghề trồng lúa nước, Việt Nam chính là trung tâm khởi nguyên của nhiều loại rau trồng, nhất là các cây thuộc họ bầu bí. Song do chịu ảnh hưởng của một nền nông nghiệp lạc hậu và tự túc trong nhiều thế kỷ qua, cho nên sự phát triển rau xanh ở nước ta kém xa so với trình độ canh tác của thế giới. Những năm gần đây mặc dù ngành trồng rau có khởi sắc, nhưng trên thực tế vẫn chưa theo kịp nhiều ngành trồng khác trong sản xuất nông nghiệp.
Trong đề án phát triển rau quả và hoa, cây cảnh giai đoạn 1999 - 2010 do Bộ Nông nghiệp và PTNT đề ra mục tiêu cho ngành sản xuất rau đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 03/9/1999 là “Đáp ứng nhu cầu có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước, nhất là những vùng dân cư tập trung (đô thị, khu công nghiệp.) và xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2010 đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người là 85 kg rau trên 1 năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 690 triệu USD”. Theo số liệu thống kê năm 2000 [4] thì diện tích trồng rau cả nước là 445 nghìn ha, tăng 70% so với năm 1990 (261. Bình quân mỗi năm tăng 14,8 -4- nghìn ha (mức tăng 7%/ năm), trong đó các tỉnh phía Bắc có 249.200 ha, chiếm 56% diện tích canh tác, các tỉnh phía Nam 196.
Năng suất rau xanh nói chung còn thấp và bấp bênh. Năm 1998 có năng suất cao nhất đạt 144,8 tạ/ ha, bằng 80% so với mức trung bình toàn thế giới (xấp xỉ 180 tạ/ ha). Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân cả nước trong 10 năm chỉ tăng 11,5 tạ/ ha. Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hồ Chí Minh, Đà Lạt (Lâm Đồng).
là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt mức 160 tạ/ ha. Năng suát thấp nhất là các tỉnh ở miền trung, chỉ bằng một nửa năng suất trung bình của cả nước. Có nhiều nguyên nhân làm cho năng suất rau ở nước ta còn thấp, song nguyên nhân chủ yếu vẫn là do thiếu đầu tư cho thuỷ lợi, phân bón. Ngoài ra nước ta vẫn chưa có bộ giống rau chuẩn và tốt.
Hệ thống nhân giống và sản xuất hạt giống rau cũng chưa được hình thành. Phần lớn hạt giống rau do dân tự để giống hoặc nhập nội không qua khảo nghiệm kỹ. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng của rau xanh. Sản lượng rau trên đất nông nghiệp cao nhất vào năm 2000 đạt 6,007 triệu tấn so với năm 1990 (2,3 triệu tấn), tăng 81%.
Mức tăng sản lượng trung bình hàng năm trong 10 năm qua là xấp xỉ 260 nghìn tấn, chủ yếu do tăng diện tích gieo trồng được hình thành từ 2 vùng chính: - Vùng rau chuyên canh ven thành phố và các khu công nghiệp, chiếm 38 - 40% diện tích và 45 - 50% sản lượng. Tại đây, rau sản xuất phục vụ tập trung cho dân cư là chủ yếu với chủng loại rau rất phong phú và đạt chất lượng cao. - Vùng rau luân canh với cây lương thực được trồng chủ yếu trong vụ đông xuân tại các tỉnh phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Đây là vùng rau hàng hoá lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế -5- biến, cho xuất khẩu tươi, nếu nước ta biết phát huy được lợi thế này thì ngành sản xuất rau sẽ có tốc độ phát triển nhảy vọt.
Với gần 12 triệu hộ nông dân ở nông thôn có diện tích trồng rau gia đình bình quân khoảng 30 m2/ hộ (cả rau cạn và rau mặt ao hồ) thì tổng sản lượng rau của cả nước hiện nay khoảng 6,6 triệu tấn [7]. Bình quân số lượng rau xanh tính trên đầu người ở nước ta vào khoảng 84 kg/ người/ năm. So với nhu cầu dinh dưỡng thì khối lượng trên còn rất thấp, chỉ với mức sản xuất 100 kg/ người/ năm (tiêu thụ 80 kg) như kế hoạch đề ra năm 2000 thì nước ta mới đạt chỉ tiêu về khối lượng rau cho tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu, chứ chưa đảm bảo nhu cầu xuất khẩu. Thực tế cho thấy những năm gần đây rau xanh ở nước ta phát triển nhanh cả về diện tích, năng xuất và sản lượng, tuy nhiên trên rau vẫn còn dư lượng hoá chất, điều này đã để lại những hậu quả xấu cho người tiêu dùng.
Nguyên nhân gây ô nhiễm trên rau trồng Trong xu thế của một nền sản xuất thâm canh, bên cạnh mức gia tăng về khối lượng và chủng loại, ngành trồng rau hiện đang bộc lộ mặt trái của nó. Việc ứng dụng ồ ạt, thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về hoá học, nông hoá thổ nhưỡng, công nghệ sinh học. đã làm tăng mức độ ô nhiễm các sản phẩm rau. Để xác định nguyên nhân gây ô nhiễm, xây dựng các biện pháp canh tác hợp lý nhằm giảm đến mức thấp nhất các dự lượng hoá chất gây tác hại cho sức khoẻ con người có trong sản phẩm cần đánh giá đúng thực trạng môi trường canh tác và các tác động lớn đến sự ô nhiễm.
Ô nhiễm do hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV) Theo thông báo của Nguyễn Ngọc Sinh và cộng sự năm 1999 thì lượng thuốc BVTV ở nước ta đã không ngừng gia tăng, nếu năm 1957 nước ta mới biết -6- sử dụng hoá chất BVTV, cả nước chỉ dùng có 100 tấn thành phẩm thì đến năm 1990 lượng thuốc BVTV đã tăng đến 3500 - 4000 tấn hoạt chất tương đương với 13 - 15 nghìn tấn thành phẩm. So với năm 1990 thì năm 1999 lượng thuốc dùng cho 1 ha cây trồng tăng 2,17 lần, lượng thuốc BVTV tiêu thụ tăng 11,8 lần và giá thuốc tăng 21,9 lần. Lượng hoạt chất trên 1 ha canh tác cũng không ngừng gia tăng, năm 1990 chỉ sử dụng 0,5 kg ai/ ha thì năm 1998 tăng lên 1,35 kg ai/ ha. Theo nguồn của Cục BVTV thì lượng thuốc BVTV sử dụng trên diện tích canh tác ở Việt Nam trước 1990 đến năm 1999 qua bảng 2.
Lượng thuốc sử dụng trên diện tích canh tác ở Việt Nam (trước 1990 - 1999) Tổng giá trị Diện tích Lượng thuốc Bình quân cho 1 ha (triệu USD) Năm canh tác nhập (Tấn Tỷ lệ Lượng thuốc Giá trị (triệu ha) thành phẩm) Tiền (%) (kg ai) (USD) 1990 9,0 15.715 158,7 1763,3 1,05 15,11 -7- Như vậy, lượng thuốc BVTV đã sử dụng trên diện tích canh tác ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Nếu năm 1990 thuốc trừ sâu bệnh chỉ sử dụng cho gần 9 triệu ha cây trồng thì năm 1999 đã có 10,5 triệu cây trồng phải dùng thuốc BVTV và để có lượng thuốc trên tất nhiên chi phí về tổng giá trị USD là rất lớn. Tính đến năm 1999 nước ta đã phải chi mất 158,7 triệu USD cho thuốc BVTV, tăng 17,63 lần so với năm 1990, lượng thuốc dùng cho 1 ha cây trồng cũng tăng gấp 2 lần. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV ở nước ta thời gian qua: Theo Viện Bảo vệ Thực vật năm 1998, đến nay nước ta đã và đang sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 26 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng gia tăng.