mở đầu một bài học kinh nghiệm quý báu: Kinh thành có thể bị tàn phá, nhưng còn dân, còn nước sẽ giành thắng lợi quyết định cuối cùng. Là trung tâm nhiều thế kỷ của miền Bắc Việt Nam, đến đời Trần, Kinh sư Thăng Long qua gần hai thế kỷ XIII - XIV, không chỉ tiếp tục phát huy và khắc họa rõ nét mà phát triển đặc tính hội tụ, kết tinh, thăng hoa của văn hóa Đại Việt lên một quy mô, tầm vóc mới. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lợi dụng sự suy yếu vào nửa sau thế kỷ XIV của Vương triều Trần, Hồ Quý Ly - một quý tộc ngoại thích - đã ra sức củng cố địa vị và gây dựng lực lượng, thiết lập triều Hồ (1400 - 1407). Ngay từ năm 1397, Hồ Quý Ly đã xây dựng một đô thành mới gọi là Tây Đô (thành nhà Hồ) ở An Tôn, Thanh Hoá và buộc vua Trần dời đô về đó.
Thăng Long đổi gọi là Đông Đô. Từ đó, trong những năm cuối triều Trần và trong thời nhà Hồ, Thăng Long - Đông Đô mất đi vị trí là trung tâm chính trị của cả nước. Từ cuối năm 1406, Thăng Long - Đông Đô cùng cả nước trải qua cuộc chiến tranh xâm lược và sau đó là 20 năm đô hộ của nhà Minh (1407 - 1427). Trong giai đoạn Minh thuộc, thành Đông Đô bị đổi tên là thành Đông Quan, trở thành nơi tập trung bộ máy của chính quyền cai trị và hệ thống đồn luỹ của quân giặc.
Tháng 9 năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn từ miền Trung theo 3 hướng tiến quân ra các lộ phía bắc, lấy thành Đông Quan là trung tâm. “Hào kiệt các lộ, dân các phủ huyện và tù trưởng các biên trấn kéo đến cửa dinh đông nghịt, tất thảy đều tình nguyện giúp sức đánh phá các thành” còn Lê Lợi thì “thân đốc suất tướng sĩ ngày đêm đánh thành” [96, tr. Quanh Đông Quan trở thành chiến trường chính, tập trung cao độ sức người, sức của, thể hiện ý chí quyết tâm cao nhất của quân dân Đại Việt cho chiến dịch bao vây, tiến công giải phóng thành. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh giành thắng lợi “muôn dặm non sông thu phục lại”, “Đông Đô phường phố vẫn y nguyên” không chỉ là kết quả mà còn là bài học mưu lược cho sự vẹn toàn đất nước, mưu kế cực kỳ sâu xa, cổ kim chưa từng nghe thấy; là sự trưởng thành của ý thức, trí tuệ trong kháng chiến (hiểu rõ chính mình và đối phương trong chiến đấu), tính khoan dung, sự hòa hiếu (hiểu rõ ta và đối phương trong chiều sâu lịch sử - văn hóa và mối quan hệ hậu chiến) của văn hóa Đại Việt được kết tinh và tỏa sáng đầu thế kỷ XV.
Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mở ra một giai đoạn phát triển mới của chế độ quân chủ tập quyền dưới triều Lê sơ (1428 - 1527). Tháng 4 năm Mậu Thân (1428), vị lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chuyển “từ điện tranh ở Bồ Đề vào đóng ở thành Đông Quan)”[ 96, tr. Ngày 15 tháng 4, Bình Định 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vương chính thức lên ngôi vua tại Đông Đô, đặt niên hiệu Thuận Thiên, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô tại thành Đông Đô. Mùa hạ năm Canh Tuất (1430), vua Lê Thái Tổ đổi thành Đông Đô thành Đông Kinh, tiếp tục giữ vai trò trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của quốc gia Đại Việt suốt triều Lê sơ, Trải qua nhiều biến động dồn dập cuối thời Trần, thời Hồ, dưới sự tàn phá của hai mươi năm thuộc Minh, bộ mặt kinh thành lúc này không còn như xưa nữa.
Một trong những việc làm đầu tiên của vua Lê Thái Tổ là sửa sang, xây dựng các cung điện phục vụ công việc triều chính và nhu cầu sinh hoạt triều đình. Cuối năm Mậu Thân (1428), vua làm điện Vạn Thọ, lại làm Tả, Hữu điện, điện Kính Thiên, điện Cần Chính” [96, tr. Dưới các đời vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, công việc việc kiến thiết kinh thành vẫn tiếp tục diễn ra, song cũng chỉ dừng lại ở một số cung điện, đàn thờ. Mùa xuân, tháng giêng năm Nhâm Tuất (1442) Lê Thái Tông xuống chiếu “làm cung điện mới” [96, tr.
351] ở trong thành Đông Kinh. Tháng 3 năm Mậu Thìn (1448), gác Thừa Thiên cũng được hoàn thành lộng lẫy, nguy nga hơn trước [96, tr. Tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1449), nhà vua xuống chiếu cho lập đàn thờ Đô đại thành hoàng ở kinh sư Đông Kinh, đàn tế các thần Gió, Sấm, Mây, Mưa và đàn thờ ma quỷ không ai tế tự để theo các mùa mà tổ chức thờ cúng, tế lễ [96, tr. Dưới 3 triều vua đầu thời Lê sơ, công việc chỉnh trang, kiến thiết kinh thành chủ yếu là sửa chữa hoặc xây dựng một số cung điện, lầu gác, đền thờ…phục vụ trực tiếp hoạt động triều chính và sinh hoạt của nhà vua.
Các vòng thành lũy của thành Thăng Long, rồi Đông Đô, Đông Quan trước kia vốn đã bị tàn phá bởi chiến tranh (từ cuối thời Trần, qua các thời Hồ và Minh thuộc), không những không được sửa chữa, bồi đắp mà ngược lại còn bị hủy hoại bởi thời gian và điều kiện khí hậu nên đến cuối đời vua Nhân Tông đã không còn đảm bảo được vai trò an ninh nữa. “…Cửa ngõ thì sơ sài, tay không cũng phá nổi” [96, tr. Tháng 11 năm Canh Tuất (1490), vua Lê Thánh Tông cho đắp rộng Phụng Thành cũng chính là vì “cảnh giác về việc Nhân Tông bị hại, nên lấy lính đắp thành đó” [96, tr. 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), Lê Thánh Tông lên ngôi Hoàng đế, mở đầu thời kỳ thịnh trị kéo dài 37 năm (1460 - 1497).
Tháng 3 năm 1465, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu cho tổ chức xây dựng lại điện Kính Thiên trên nền cũ. Tháng 8, vua lại cho xây dựng điện Cẩn Đức trong kinh thành. Nhận thấy Hoàng thành Đông Kinh ẩm thấp, chật hẹp, nhà vua cử Đông quân quyền hữu đô đốc Trịnh Công Lộ đốc thúc quân Ngũ phủ xây dựng thêm Hoàng thành. Tháng 10 năm 1474, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu cho xây đắp lại bức tường phía Tây thành Đông Kinh cho vững chắc; năm 1477, tu sửa, bồi đắp thêm thành Đại La.
Tháng 10 năm 1481, nhà vua cho đào hồ Hải Trì ở góc Tây Nam thành nội Đông Kinh, quanh co dài 100 dặm, giữa hồ có điện Thúy Ngọc, bên hồ xây điện Giảng Võ để tập luyện binh tượng. Bên cạnh việc tiếp tục xây sửa những công trình kiến trúc cung điện lầu gác…, tập trung kiến thiết khu vực Cấm thành - trung tâm đầu não của kinh thành và của quốc gia Đại Việt nói chung - lần đầu tiên dưới thời Lê sơ thành lũy được quan tâm một cách tương đối toàn diện với việc xây đắp thành Đại La, mở rộng Hoàng Thành, xây dựng tập trung một khu quân sự Giảng Võ. Với sự chuyển biến mang tính bước ngoặt theo mô hình quân chủ tập quyền quan liêu của xã hội Việt Nam thời Lê sơ (khác hẳn với mô hình quân chủ tập quyền thân dân trước đó), ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, của Nho giáo ngày càng đậm. Sự phân tầng, phân biệt đẳng cấp ảnh hưởng ngày càng đậm nét đến những thay đổi của các vòng thành.
Đại La thành là vòng thành ngoài cùng bao quanh kinh đô, ranh giới giữa kinh thành với bộ phận còn lại của đất nước. Bên trong thành Đại La bao gồm 2 bộ phận: thành và thị. Một bên là khu vực chính trị quan liêu - nơi diễn ra các hoạt động triều chính và sinh hoạt thường ngày của vua quan, và một bên là khu vực kinh tế - dân gian gồm 36 phường sống xung quanh. Chức năng của vòng thành ngoài trở nên đa dạng bởi đặc tính nương theo tự nhiên, dãn mở.
Ngoài chức năng phòng thủ bảo vệ kinh thành trong thời chiến, Đại La thành còn giữ vai trò quan trọng trong giao thông và chống lụt. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở vòng thành giữa thời Lý, Trần, Hoàng thành được dựng lên, phía đông, nam, bắc cơ bản trùng với thành cũ các triều đại tự chủ của quốc gia Đại Việt trước đó, duy có phía tây được mở rộng, bao lấy khu vực trường đấu võ. Hoàng thành được chú trọng bảo vệ, trên thành và tại các cửa thành đều bố trí lầu, gác, điếm canh. Bên trong Hoàng thành là Cấm thành.
Cấm thành hay Cung thành thời Lê sơ là vòng trong cùng của kết cấu “tam trùng thành quách”, bao bọc khu hoàng cung - nơi sinh hoạt của hoàng gia và diễn ra các hoạt động triều chính của vương triều. Đây là tòa thành tương đối vuông vức, với nhiều cung, điện, lầu, gác nguy nga tráng lệ. Cấm thành dưới chế độ quân chủ tập quyền quan liêu của thế kỷ XV và đầu XVI thâm nghiêm, được bảo vệ nghiêm ngặt với hệ thống các tường và cửa. Cho dù “công trình thổ mộc vượt quá quy mô xưa” [96, tr.
387] nhưng diện mạo thành Đông Kinh thời Lê sơ về cơ bản đã được định hình dưới triều vua Lê Thánh Tông. Sự vững mạnh cực thịnh của Đại Việt dưới thời Lê Thánh Tông là tiền đề vật chất để hiện thực hóa công cuộc xây dựng thành lũy. Nhưng những biến động chính trị ở Đông Kinh suốt hai triều vua cuối thời Lê sơ đã tàn phá kinh thành. Trong một thế kỷ dựng xây tuy quy mô, mức độ, mục đích trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau song hoạt động xây dựng kiến thiết thành lũy thực sự khởi sắc dưới hai thời vua Thánh Tông và Tương Dực tạo nên diện mạo của thành lũy Đông Kinh thời Lê sơ, biểu trưng cho một chính quyền quân chủ tập quyền quan liêu.3 Thành lũy Thăng Long từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.
Sau những biến loạn dữ dội xảy ra trong triều đình nhà Lê và quốc gia Đại Việt hồi đầu thế kỷ XVI, “tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai vào Kinh (Thăng Long), bắt vua (Lê) phải nhường ngôi” [97, tr. 108] … Dưới thời Mạc (1527 - 1592), cho dù không còn là trung tâm của nhà nước trung ương tập quyền và một đất nước thống nhất, nhưng Thăng Long vẫn là biểu trưng của quyền lực vương triều, của truyền thống lịch sử - văn hóa, của ý thức tự tôn dân tộc và là mục đích tiên quyết của các tập đoàn phong kiến giành giật, tranh 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.