Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG ĐÃI NGỘ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cơ bản về hệ thống đãi ngộ lao động 1. Người lao động Theo Bộ Luật Lao Động 2019, NLĐ là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động [9]. Theo quan điểm của triết học Mác – Lê nin, NLĐ là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2021) [1].
Theo đó, NLĐ là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội. NLĐ là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất, xã hội. Từ những quan điểm trên, có thể đưa ra nhận định NLĐ là những người đang làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp. Họ được tổ chức, doanh nghiệp khai thác, sử dụng và trả công nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu, chiến lược của tổ chức doanh nghiệp.
NLĐ hay còn gọi là nhân lực được coi là một trong những nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất của tổ chức, doanh nghiệp, họ sở hữu thể lực và trí lực để sáng tạo, sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ và giúp cho tổ chức, doanh nghiệp đạt được những thành công trên thị trường. Đãi ngộ lao động Theo Hoàng Văn Hải (2011), “đãi ngộ nhân lực là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp” [6]. Theo tác giả, đãi ngộ nhân lực là một quá trình mà trong đó mối quan hệ giữa NLĐ và người sử dụng lao động được thể hiện cơ bản nhất, đồng thời quá trình này có liên quan chặt chẽ đến việc thoả mãn những nhu cầu cơ bản nhất của NLĐ đó là 11 nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Hoạt động này được tiến hành nhằm thực hiện mục tiêu mà doanh nghiệp đưa ra.
Theo Nguyễn Hữu Thân (2008) thì cho rằng “lương bổng và đãi ngộ chỉ về mọi loại phần thưởng mà một cá nhân có thể nhận được để đổi lấy sức lao động của mình” [10]. Trong đó lương bổng và đãi ngộ không chỉ đơn thuần thể hiện ở mặt tài chính mà còn bao gồm các khía cạnh phi tài chính. Để nhận được những phần thưởng này, NLĐ phải cống hiến sức lực, trí tuệ cho doanh nghiệp và đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp đó. Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2010) định nghĩa “đãi ngộ nhân lực là các khoản thù lao và phúc lợi mà NLĐ nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa họ với tổ chức” [4].
Quan điểm này cho thấy, đãi ngộ là các khoản thu nhập tài chính và phi tài chính được doanh nghiệp chi trả cho NLĐ để họ thực hiện các công việc mà doanh nghiệp giao phó. Theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), “đãi ngộ nhân lực là những đối đãi, đối xử thực tế của tổ chức, doanh nghiệp đối với NLĐ trong quá trình họ làm việc tại doanh nghiệp” [7]. Hoạt động đãi ngộ lao động là việc đối xử tương ứng với đóng góp của mỗi cá nhân trong quan hệ lao động với một công ty. Điều này thể hiện qua quyền lợi, phúc lợi phù hợp với thành tựu và cống hiến của họ.
Tóm lại, từ quan điểm của các nhà nghiên cứu trên có thể thấy rằng đãi ngộ lao động là một quá trình mà doanh nghiệp tiến hành đưa ra những đối đãi, chăm sóc về mặt vật chất và tinh thần dành cho NLĐ trong thời gian họ làm việc tại doanh nghiệp. Quá trình này nhằm mục tiêu khuyến khích, thúc đẩy NLĐ làm việc hiệu quả hơn đồng thời góp phần giữ chân NLĐ. “Đãi ngộ lao động” trong doanh nghiệp luôn là biện pháp lâu dài mang tính chiến lược cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để tạo ra và khai thác đầy đủ động cơ thúc đẩy NLĐ làm việc thì cần phải có các chính sách đãi ngộ tài chính kết hợp với đãi ngộ phi tài chính nhằm tạo ra sự đồng bộ trong công tác đãi ngộ lao động 12 của doanh nghiệp, tạo động lực lao động và góp phần tạo nên sức mạnh tập thể của doanh nghiệp.
Hệ thống đãi ngộ Theo O’Neal (1998), hệ thống đãi ngộ lao động bao gồm toàn bộ các giá trị mà NLĐ nhận được từ mối quan hệ lao động. [17] Manus & Graham (2003), các thành phần trong hệ thống đãi ngộ lao động bao gồm tất cả các dạng trả công - gián tiếp cũng như trực tiếp, bên trong cũng như bên ngoài: lương cơ bản, lương biến đổi, phúc lợi và thù lao phi tài chính, bao gồm các giá trị nhận được từ chính công việc.[16] Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2010), hệ thống của thù lao lao động bao gồm 3 thành phần đó là thù lao cơ bản, các khoản khuyến khích và một số phúc lợi.[4] Armstrong (2014) cũng đưa ra hệ thống đãi ngộ có các thành phần là thù lao tài chính và thù lao phi tài chính. Trong đó, thù lao tài chính như: lương cơ bản, lương biến đổi và phúc lợi; thù lao phi tài chính gồm thù lao phi tài chính bên trong (cá nhân, tập thể) và thù lao phi tài chính bên ngoài (cá nhân, tập thể).[15] Trong các doanh nghiệp, hệ thống đãi ngộ được dùng để nói tới hệ thống tích hợp các chế độ đãi ngộ và khen thưởng của một doanh nghiệp dành riêng cho đội ngũ nhân viên của công ty. Hệ thống này được xây dựng nhằm tri ân sự cống hiến của nhân sự đóng góp vào sự phát triển chung của tổ chức, doanh nghiệp.
Trên thực tế, hệ thống đãi ngộ một khi đã triển khai thành công sẽ đem lại giá trị tương đối lớn cho cả doanh nghiệp và nhân sự, do đó để phù hợp với thời cuộc và tạo lợi thế cạnh tranh, hiện nay các công ty đều có xu hướng tạo dựng hệ thống phúc lợi cho nhân viên minh bạch và rõ ràng hơn bao giờ hết. Đãi ngộ tài chính Theo Hoàng Văn Hải (2011), đãi ngộ tài chính trong doanh nghiệp là hình thức đãi ngộ bằng các công cụ tài chính, bao gồm nhiều loại khác nhau như tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp, phúc lợi, cổ phần…[6] Nguyễn Hữu Thân (2008) thì cho rằng đãi ngộ tài chính bao gồm đãi ngộ tài chính trực tiếp và đãi ngộ tài chính gián tiếp. Đãi ngộ tài chính trực tiếp được thực hiện bằng các công cụ như tiền lương, tiền thưởng, cổ phần. Đây là khoàn tiền liên quan trực tiếp đến vị trí công việc và năng suất lao động, hiệu quả làm việc của nhân viên và chiếm tỉ trọng lớn trong thu nhập hàng tháng của nhân viên.
Đãi ngộ tài chính gián tiếp là những khoản thu nhập không trực tiếp liên quan đến năng suất lao động cũng như hiệu quả làm việc của nhân viên và mang tính chất hỗ trợ cho cuộc sống của NLĐ như trợ cấp, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ, đưa đón nhân viên…[10] Tóm lại, đãi ngộ tài chính là khoản tiền mà doanh nghiệp chi trả cho nhân viên khi mà họ đảm nhận những công việc của doanh nghiệp giao cho họ. Đó là khoản thu nhập mà nhân viên được nhận cho số lượng, chất lượng công việc; cho những đóng góp trên mức bình thường của họ. Nó cũng có thể được trả cho nhân viên vì họ nhận thêm trách nhiệm hoặc công tác trong những điều kiện đặc biệt, hoặc là để NLĐ khắc phục những khó khăn trong cuộc sống. Đãi ngộ tài chính không chỉ bù đắp hao phí lao động mà nó còn là công cụ quan trọng nhằm khuyến khích, động viên NLĐ cống hiến hết khả năng, lòng nhiệt tình của mình cho hoạt động của công ty.
Đãi ngộ phi tài chính Đãi ngộ phi tài chính thực chất là quá trình chăm lo đời sống của NLĐ thông qua các công cụ không phải tiền bạc. Những nhu cầu đời sống tinh thần của NLĐ rất đa dạng và ngày càng đòi hỏi nâng cao như niềm vui trong công việc, sự hứng thú, say mê làm việc, được đối xử công bằng, được kính trọng, được giao tiếp với mọi người, đồng nghiệp… (Hoàng Văn Hải, 2011). Trong 14 doanh nghiệp thì đãi ngộ phi tài chính được thực hiện thông qua công việc và môi trường làm việc. [6] Thực tế cho thấy NLĐ trong doanh nghiệp, không chỉ có động lực duy nhất làm việc để kiếm tiền mà còn có những nhu cầu không thể thỏa mãn bằng vật chất, nói cách khác họ còn có giá trị khác để theo đuổi.
Các công cụ đãi ngộ phi tài chính mang lại những giá trị lớn lao cho NLĐ về việc phát triển năng lực của bản thân và tạo ra tinh thần làm việc hăng say, hứng khởi. Đây là yếu tố ngày càng được chú trọng để cải thiện khả năng giữ chân và tạo động lực để NLĐ làm việc hiệu quả hơn. Những nội dung cơ bản về hệ thống đãi ngộ lao động trong Doanh nghiệp 1. Căn cứ xây dựng hệ thống đãi ngộ lao động trong doanh nghiệp Quy định liên quan của Nhà nước: Khi xây dựng hệ thống đãi ngộ lao động trong doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định của Nhà nước: pháp luật lao động, một số thông tư, nghị định về tiền lương tối thiểu vùng, chế độ bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp), quy định về thang bảng lương, hợp đồng lao động, ngày nghỉ phép…Doanh nghiệp căn cứ vào các quy định đó để thực hiện các chế độ như lương cơ bản, bảo hiểm… cho NLĐ.
Chiến lược phát triển của doanh nghiệp và mục tiêu quản lý: mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì sẽ cần một lực lượng lao động phù hợp để thực hiện chiến lược đó. Để có được lực lượng lao động để thực thi chiến lược đã đưa ra thì doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược nguồn nhân lực và hệ thống đãi ngộ lao động là một phần quan trọng trong đó. Hệ thống đãi ngộ lao động giúp doanh nghiệp thu hút, truyển chọn và duy trì được đội ngũ lao động có đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, cơ cấu để hoàn thành chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp đưa ra. 15 Văn hoá doanh nghiệp: Văn hoá doanh nghiệp thể hiện niềm tin, giá trị, cách thức giao tiếp ứng xử của doanh nghiệp đó.
Văn hoá doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của NLĐ trong doanh nghiệp.