phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam. Chƣơng 2: Tổ chức xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho HS lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam. Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm. TIEU LUAN MOI download 5: skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM 1.
Đọc hiểu văn bản và việc dạy học đọc hiểu văn bản 1. Đọc hiểu văn bản Đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu văn bản và do đó cũng đã có không ít định nghĩa, quan niệm khác nhau về đọc hiểu văn bản. Theo Walcutt, “đọc hiểu văn bản là công việc giải mã những kí hiệu đã được viết thành văn bản và có thể nghe được âm thanh phát ra, là cái âm thanh mà kí hiệu đó thể hiện”. Còn Karlin lại cho rằng đọc là một dạng biểu hiện của tư duy, là dung nạp hay suy nghĩ về một hay những thông tin nào đó.
Đọc là sự sáng tạo ra những ý tưởng của người khác… Các tác giả Tinker và McCullough thì thừa nhận rằng: Việc đọc bao gồm sự phát hiện và công nhận các kí hiệu in hoặc viết có tác dụng như những tác nhân khơi gợi nghĩa của từ vốn đã được người đọc thiết lập bằng kinh nghiệm trong quá khứ và xây dựng thêm các nghĩa mới mà người đọc tìm ra nhờ những khái niệm tương tự, sẵn có ở người đọc [Dẫn theo 22, tr. Theo quan điểm này, việc giải mã và việc hiểu kết quả giải mã có ý nghĩa quan trọng như nhau Dưới góc độ ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã từng nêu khái quát về khái niệm đọc hiểu như sau: “ Dù đơn giản hay phức tạp, đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [10, tr.27] Từ bình diện văn hóa, tác giả Nguyễn Thanh Hùng quan niệm “dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc”, trong đó “ đọc là một năng lực TIEU LUAN MOI download 6: skknchat@gmail.com văn hoá có ý nghĩa cơ bản đối với vệc phát triển nhân cách; đồng thời “đọc còn là phương diện thông tin nhiều loại khác nhau về quan điểm, thái độ kinh nghiệm, tri thức” [18]. Với văn bản văn học, khái niệm đọc hiểu có nội hàm khoa học phong phú, có nhiều cấp độ, gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận, tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp, thi pháp học, văn bản học,… Bởi vì, đọc hiểu không chỉ là hoạt động tái tạo âm thanh từ chữ viết mà là một tương quan năng động giữa cấu trúc tâm lí nhân cách, cấu trúc văn hoá, cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng và cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn chương. Như vậy, đọc hiểu văn bản không chỉ đơn thuần chỉ là phân tích ngôn ngữ văn bản, cũng không hoàn toàn là sự gọi tên mới cho hoạt động giảng văn.
Đứng ở góc độ giao tiếp bằng văn bản và giao tiếp với văn bản, đọc hiểu là một bộ phận hợp thành của hoạt động giao tiếp. Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình: lĩnh hội và tạo lập lời nói. Hoạt động đọc (đọc hiểu) thuộc quá trình lĩnh hội, đối tượng tác động của hoạt động này là các văn bản thuộc nhiều kiểu loại, động cơ của hoạt động đọc là nhu cầu hiểu biết, nhu cầu bộc lộ và nhu cầu hành động của bản thân người đọc [22, tr.29] Xét ở phương diện hoạt động, đọc là một hoạt động của con người. Con người thực hiện việc giao tiếp bằng bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết, trong đó kĩ năng đọc là hoạt động cơ bản, thường xuyên, giúp con người nắm bắt thông tin nhanh, chính xác, biết lựa chọn và xử lí thông tin, nhờ đó mà hòa nhập xã hội.
Có thể nói đọc văn bản văn học là một quá trình phát hiện và khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời đại trong cấu trúc hình tượng thẩm mĩ của tác phẩm được đan xen giữa hoạt động nhận thức, đánh giá và thưởng thức giá trị đích thực tồn tại trong hình thức nghệ thuật độc đáo của tác phẩm. Dạy học đọc hiểu văn bản a. Quan niệm dạy học đọc hiểu văn bản Theo Phạm Thị Huệ (2014), “Dạy học đọc hiểu là quá trình sư phạm TIEU LUAN MOI download 7: skknchat@gmail.com nhằm tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản. Mục đích cuối cùng của việc dạy học đọc hiểu là học sinh hiểu được những gì đã đọc, hình thành, phát triển kĩ năng đọc hiểu và cao hơn là năng lực đọc hiểu, vận dụng những gì đã đọc hiểu được vào học tập và cuộc sống” [15, tr.28] Dạy học đọc hiểu không chỉ giúp cho HS cảm nhận được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm mà còn giúp cho HS tự cảm nhận, khám phá, tự trải nghiệm, tự tìm tòi và trả lời câu hỏi dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
Do đó đạy học đọc hiểu là GV không còn thuyết trình, áp đặt cách hiểu cho HS mà GV là người tổ chức hướng dẫn HS chủ động tìm tòi, sáng tạo, HS biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Có thể nói bản chất của dạy học đọc hiểu là dạy cho HS những kĩ năng, những thao tác để HS tự khám phá cảm nhận tác phẩm văn chương một cách tích cực. Như vậy dạy học đọc hiểu là tổ chức hướng dẫn HS hiểu nội dung, phương thức biểu đạt và phản hồi các thông tin trong văn bản, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân. Yêu cầu của việc dạy học đọc hiểu văn bản * Việc dạy học Ngữ văn cần đảm bảo định hướng tích hợp Ở trường trung học, những năm gần đây, người ta bàn nhiều đến dịnh hướng tích hợp trong dạy học, trong đó có dạy học Ngữ văn.
Các bộ phận Văn học, Tiếng Việt, Làm văn đều có kiến thức riêng, nhưng đều được tích hợp trong việc tổ chức hoạt đọc hiểu và làm văn. Những kiến thức về ngôn ngữ, Việt ngữ được cung cấp thông qua việc dạy học đọc hiểu một văn bản hoặc một văn bản cụ thể; nhờ sự nhận thức rõ ràng về các đơn vị, các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và việc hiểu văn bản trở nên đúng đắn, chắc chắn hơn; trên cơ sở đó, hình thành cho HS các kĩ năng tạo lập văn bản một cách tự giác [Dẫn theo 22, tr.44] * Việc dạy học đọc hiểu văn bản cần xuất phát từ văn bản và bám sát văn bản TIEU LUAN MOI download 8: skknchat@gmail.com Yêu cầu trước hết và cũng là cốt lõi của việc dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường là phải xuất phát từ văn bản, bám sát văn bản và hướng tới văn bản. Văn bản ở đây chính là văn bản hình thức, văn bản ngôn từ. Nói một cách hình tượng, đọc hiểu văn bản là quá trình phá vỡ bức tường ngôn ngữ từ đơn vị từ đến đơn vị văn bản để tìm ra những thông điệp nội dung mà văn bản muốn chuyển tải; do đó, việc dạy học đọc hiểu văn bản cần thiết phải trang bị cho HS một phương tiện, một cách thức để xử lí một cách hiệu quả quá trình phá vỡ bức tường ngôn ngữ.
* Cần tận dụng khả năng của ngôn ngữ học văn bản trong dạy học đọc hiểu văn bản Việc dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường hiện nay là quá trình tổ chức cho HS tiếp cận một văn bản đại diện cho một phương thức biểu đạt, hiểu được nội dung và hình thức thể hiện của văn bản ấy, trên cơ sở đó mà tiếp nhận và tạo lập được những văn bản khác có cùng phương thức biểu đạt. Thông qua một bài học cụ thể, hình thành cho HS kĩ năng tự học các bài học tương tự, kĩ năng giải quyết các vấn đề liên quan ở một thời điểm khác, có thể không nhất thiết là ở nhà trường [22, tr. Điều này cũng được hiểu là việc dạy học văn bản trong nhà trường phải góp phần phát triển năng lực đọc hiểu của HS. Năng lực đọc hiểu và việc phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT 1.
Năng lực Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường thì: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [24, tr.45] Hay các tác giả Đặng Quốc Bảo và Phạm Minh Mục khi tiếp cận phạm TIEU LUAN MOI download 9: skknchat@gmail.com trù năng lực cũng nhấn mạnh đây là một thuộc tính đặc biệt của nhân cách và mang bản chất thực hiện: “Năng lực không hiện hữu nếu không gắn với hoạt động và chỉ xác định khi con người thực hiện một công việc cụ thể (competency). Nếu chưa thực hiện, nó gọi là khả năng (tiềm ẩn)” [Dẫn theo 26, tr. Các tác giả cũng phân biệt hai khái niệm năng lực và năng khiếu, đồng thời bàn đến trí năng với tư cách là “thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc tổng thể của năng lực, tạo nên óc suy luận, khái quát, trừu tượng hóa khi con người tác động vào thực tiễn” [10]. Năng lực được hình thành, phát triển, thể hiện qua hoạt động.
Không có hoạt động, năng lực không tồn tại. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể [18].Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn bao gồm: Năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thẩm mĩ, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác.