CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẦU CỬ VÀ HỆ THỐNG BẦU CỬ 1. Khái niệm bầu cử Bầu cử được xem là “trái tim của dân chủ” [27, tr.174]; là một chế định trọng tâm của các chính thể dân chủ đại diện. Có nhiều định nghĩa về bầu cử, tuy nhiên, từ góc độ khái quát nhất, có thể hiểu bầu cử là một quy trình chính trị - pháp lý trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn ra những người vào làm việc trong bộ máy nhà nước để thay mặt mình quản lý xã hội [7, tr. Hay nói một cách đơn giản hơn, bầu cử là phương thức để nhân dân lựa chọn người đại diện và ủy thác quyền lực cho người đại diện [20, tr.
Điều này được thể hiện ở các góc độ sau: Thứ nhất, bầu cử là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của con người. Bất cứ một quốc gia nào, một xã hội nào trong giai đoạn nào thì khi nói đến bầu cử là nói đến việc lựa chọn. Mặc dù vậy, đối tượng được lựa chọn có thể không giống nhau. Hiện nay, phổ biến nhất trong hệ thống bầu cử ở nhiều nước là lựa chọn các đại biểu trong cơ quan lập pháp.
Các nước tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy, bầu cử không những là phương thức thành lập cơ quan lập pháp mà còn được áp dụng để bầu các chức danh trong các nhánh quyền lực khác như Tổng thống, các Thị trưởng và có thể là các chức danh trong các cơ quan tư pháp [2, tr. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước là thống nhất, thuộc về nhân dân cho nên bầu cử là phương thức để thành lập ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Tóm lại, các đại biểu, các chức danh từ kết quả của 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bầu cử đều trở thành người đại diện cho nhân dân vì họ do nhân dân trực tiếp bầu ra và trao quyền. Thứ hai, bầu cử là việc ủy thác quyền lực của nhân dân đến người được chọn lựa.
Điều đó có nghĩa là thông qua hành vi bỏ phiếu, người dân lựa chọn và đồng thời trao quyền lực của mình cho người mà mình đã lựa chọn. Chủ thể nào được lựa chọn thông qua bầu cử thì chủ thể đó nhận quyền lực từ nhân dân. Tuy nhiên, mức độ quyền lực mà người đại diện được nhân dân ủy quyền không chỉ đơn thuần là hành vi bỏ phiếu mà còn liên quan đến việc chủ thể nào quy định quyền lực của cơ quan đại diện và quyền hạn, nhiệm vụ đại biểu dân cử. Trong các nền dân chủ đương đại thì vấn đề phân công quyền lực nhà nước và mức độ trao quyền lực thường được quy định trong Hiến pháp của mỗi nước.
Như vậy, phạm vi thẩm quyền của người đại diện không do cử tri trực tiếp quyết định trong bầu cử mà do Hiến pháp quy định. Nói cách khác, trong bầu cử, cử tri chỉ trao quyền cho người đại diện. Ai được cử tri lựa chọn thì người đó sẽ nhận được quyền lực từ nhân dân còn vấn đề nhận được bao nhiêu quyền lực sẽ do Hiến pháp quy định. Như vậy, nếu Hiến pháp – văn bản phân công quyền lực là do nhân dân thông qua thì nhân dân không những trực tiếp lựa chọn, trực tiếp trao quyền mà còn trực tiếp quy định về phạm vi thẩm quyền cho người đại diện.
Trong trường hợp nhân dân không thông qua Hiến pháp thì nhân dân chỉ trao quyền cho người đại diện thông qua bầu cử. Phạm vi thẩm quyền bao nhiêu, “nhiều” hay “ít” là do Hiến pháp ấn định [20, tr. Tuy thẩm quyền của người đại diện được quy định trong Hiến pháp, nhưng nếu không được người dân chọn qua bầu cử thì không thể tồn tại quyền lực của người đại diện. Do vậy, ngay cả trong trường hợp nhân dân không trực tiếp thông qua Hiến pháp thì vẫn có thể khẳng định rằng hành vi bỏ phiếu của cử tri đồng nghĩa với việc cử tri trao quyền lực của mình cho người mình chọn.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, bầu cử trước hết là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của con người. Nó phát triển cùng với quá trình phát triển của con người và bầu cử ngày càng mang tính chính trị - pháp lý sâu sắc. Thông qua bầu cử, ý chí của người dân được “chuyển hóa” sang cơ quan đại diện. Có thể nói, bầu cử không những quyết định ứng cử viên, đảng phái chính trị, lực lượng xã hội nào được bầu chọn mà nó còn quyết định cách thức chuyển hóa quyền lực từ nhân dân sang người đại diện.
Kết quả của bầu cử phản ánh tỷ lệ “thu phục” niềm tin đối với cử tri của các đảng phái chính trị, lực lượng chính trị và “biến” tương quan đó thành “ghế” trong cơ quan đại diện [2, tr. Vị trí, vai trò của bầu cử Thứ nhất, bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ [38, tr. Một chế độ chỉ được coi là dân chủ khi và chỉ khi có các cuộc bầu cử. Đó là bởi bầu cử cho phép người dân không chỉ trao quyền cho những người đại diện thay mặt mình quản lý xã hội mà còn là công cụ quan trọng để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của bộ máy nhà nước.
UNESCO cũng đã khẳng định có bốn yếu tố cấu thành căn bản của một nền dân chủ, đó là: 1) Các quyền và tự do cơ bản của con người; 2) Các cuộc bầu cử tự do và công bằng; 3) Chính quyền công khai và chịu trách nhiệm giải trình; 4) Có sự hiện hữu của một xã hội dân chủ, hay nói cách khác là một xã hội “dân sự” [40]. Thông qua bầu cử, người dân có thể tự do lựa chọn những người thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước và cũng chỉ những người được chọn lựa qua bầu cử mới trở thành đại diện cho nhân dân để thực thi quyền lực thay cho nhân dân. Nếu các nguyên tắc bầu cử được tuân thủ, bầu cử cho phép người dân chọn ra những đại diện tốt nhất về năng lực và tư cách theo ý nguyện của mình để ủy quyền điều hành đất nước. Mặt khác, việc tổ chức bầu cử định kỳ, có sự cạnh tranh giữa các ứng cử viên sẽ cho công chúng khả 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng phế truất những chính khách tha hóa, yếu kém và giám sát hành động của những chính khách khi đương chức thông qua kế hoạch, ý định điều hành đất nước mà họ nêu ra trong quá trình tranh cử.
Như vậy, bầu cử tạo điều kiện để người dân tạo dựng và kiểm soát bộ máy nhà nước hoạt động theo các tiêu chuẩn pháp quyền và dân chủ [7, tr. Thứ hai, bầu cử có vai trò hợp pháp hóa chính quyền, bảo đảm tính “chính danh” và sự ổn định của chính quyền. Bầu cử là cách thức lựa chọn những người thực thi quyền lực nhà nước thông qua bỏ phiếu phổ thông theo các thủ tục quy định trong Hiến pháp và pháp luật, trong đó mọi công dân đủ điều kiện đều có quyền tham gia, vì thế quyền lực của những người được lựa chọn có tính hợp pháp, từ đó tạo cơ sở cho cho sự ổn định của bộ máy chính quyền. Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu (Organization for Security and Co-operation in Europe - CSCE) đã khẳng định “ý chí của nhân dân thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp của quyền lực nhà nước” [39].
Trong thế giới hiện đại, chính quyền thành lập không qua bầu cử, như bằng đảo chính quân sự, bất luận dù nhằm mục đích gì (kể cả được coi là chính đáng, như chính quyền quá “thối nát”), thường không được các quốc gia, các tổ chức quốc tế công nhận, hoặc có chăng thì sự thừa nhận hết sức dè dặt. Ngược lại, một chính quyền do người dân thành lập thông qua bầu cử theo những nguyên tắc tiến bộ: tự do, công bằng và trung thực, thì về nguyên tắc, chính quyền đó được coi là hợp pháp và được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế [20, tr. Chỉ khi một chính quyền được thiết lập nên bằng bầu cử thực chất, chính quyền đó mới được người dân trong nước và cộng đồng quốc tế công nhận, do đó mới có thể tồn tại, hoạt động ổn định, lâu dài. Thứ ba, bầu cử là phương thức nhằm bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, gồm quyền bỏ phiếu, quyền ứng cử, quyền vận động tranh cử, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội.
và cao nhất là quyền được lựa chọn và thay đổi chính quyền. Những quyền này thuộc nhóm quyền về chính trị, dân sự đã được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Một số trong các quyền này không thể thực hiện được nếu không có bầu cử (ví dụ: quyền bỏ phiếu, quyền ứng cử, quyền vận động tranh cử.); số khác (ví dụ: quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội.) tuy có thể thực hiện trong nhiều bối cảnh, song bầu cử vẫn là cơ hội cho phép các quyền này được thể hiện một cách tập trung, mạnh mẽ và sâu đậm nhất [7, tr. Các nguyên tắc bầu cử phổ biến trên thế giới Các nguyên tắc bầu cử là yếu tố quyết định chế độ bầu cử của một nước có tiến bộ, minh bạch và hiệu quả hay không.
Năm nguyên tắc bầu cử phổ biến hiện nay được nhiều nước trên thế giới áp dụng là nguyên tắc tự do, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các nguyên tắc này không những thống nhất mà còn có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, là yếu tố bảo đảm cho các cuộc bầu cử khách quan, dân chủ và tiến bộ. Thứ nhất, nguyên tắc bầu cử tự do. Bầu cử tự do là một nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều quốc gia.
Tuy nhiên, nội hàm của nguyên tắc này cũng được hiểu ít nhiều khác nhau. Cách hiểu thứ nhất đề cập đến ý chí tự nguyện của người dân khi tham gia vào tiến trình bầu cử.