Chương 1. Những vấn đề chung về hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện. Bất cập của quy định về hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ LÀ ĐIỀU KIỆN TRONG HỢP ĐỒNG TẶNG CHO CÓ ĐIỀU KIỆN 1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quy định về hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện 1. Khái niệm hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện Để làm rõ khái niệm hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện, trước tiên cần phải làm rõ những khái niệm liên quan, bao gồm khái niệm hợp đồng tặng cho có điều kiện, khái niệm nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện. Từ đó, tác giả đúc kết khái niệm hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện. Khái niệm hợp đồng tặng cho có điều kiện.
Hợp đồng tặng cho là một trong những công cụ pháp lý được hình thành lâu đời nhất trong pháp luật dân sự. Ngay từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ I trước Công nguyên, trong Luật La Mã, hợp đồng tặng cho được coi là một trong những cơ sở 1 làm phát sinh quyền sở hữu và được quy định một cách cụ thể, chi tiết. Điều 457 của Bộ luật Dân sự (viết tắt là BLDS) năm 2015 quy định hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản đó. Theo đó, bản chất hợp đồng của tặng cho được thể hiện rõ, “để tặng cho được xác lập, lời đề nghị của người tặng cho không đủ, cần phải có sự 2 chấp nhận của người được tặng cho.
Vậy tặng cho là một hợp đồng”. Thông thường, bên tặng cho chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho bên được tặng cho mà không có yêu cầu đền bù hay bất kỳ một điều kiện nào khác. Tuy 1 Dương Anh Sơn (2008), “Về bản chất pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10, tr. 2 Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam, Nxb.
10 nhiên, pháp luật dân sự cho phép các bên thỏa thuận bên được tặng cho chỉ trở thành chủ sở hữu của tài sản tặng cho nếu thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ theo yêu cầu của bên tặng cho. Đây chính là hợp đồng tặng cho có điều kiện được quy định tại Điều 462 BLDS năm 2015. Hợp đồng tặng cho có điều kiện là dạng đặc biệt của hợp đồng tặng cho tài sản do xuất hiện thêm yếu tố “thực hiện nghĩa vụ của bên được tặng cho”, việc thực hiện nghĩa vụ này là cơ sở để bên được tặng cho nhận tài sản. BLDS năm 2015 chỉ quy định bên tặng cho có quyền đặt điều kiện tặng cho, thời điểm bên được tặng cho phải thực hiện điều kiện, mối liên hệ giữa việc thực hiện điều kiện với việc tặng cho mà không đưa ra khái niệm thế nào là hợp đồng tặng cho có điều kiện.
Có tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng tặng cho có điều kiện như sau “hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là sự thỏa thuận trong đó bên tặng cho sẽ cân nhắc việc chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên thụ nhận sau khi bên thụ nhận thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự là điều kiện của hợp đồng tặng cho hoặc là sự thỏa thuận về việc tặng cho sẽ bị hủy bỏ khi sau khi được tặng cho mà bên nhận tặng cho không thực hiện được nghĩa vụ dân sự do bên tặng 3 cho yêu cầu trước khi tặng cho”. Tác giả đồng tình với khái niệm trên vì đã thể hiện được bản chất của hợp đồng tặng cho có điều kiện được quy định tại Điều 462 BLDS năm 2015. Cụ thể, việc thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho không ràng buộc nghĩa vụ tặng cho, nghĩa là quan hệ hợp đồng tặng cho có điều kiện có thể không được hình thành. Ngược lại, việc không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho là căn cứ để bên tặng cho lấy lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Khái niệm nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện. Theo Từ điển Tiếng Việt, “điều kiện” là “thứ cần phải có để cho cái khác có thể tồn tại” hoặc “điều phụ thuộc bắt buộc phải có trong một sự cam kết để định 4 đoạt”. Như vậy, theo nghĩa thông thường có thể hiểu điều kiện là cái phải xảy ra trước để một điều gì đó được tồn tại theo sau. Theo cách hiểu này, điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho có điều kiện có thể hiểu là một điều bắt buộc phải xảy ra để việc tặng cho tài sản xảy ra sau đó.
3 Trần Thị Như Trang (2014), Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 4 Nhiều tác giả (2014), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách Khoa, tr. 11 BLDS năm 2015 không quy định khái niệm điều kiện nói chung và điều kiện 5 trong hợp đồng tặng cho có điều kiện nói riêng.
Về khái niệm điều kiện tặng cho, có tác giả nhận định rằng “điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho. Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận 6 của bên được tặng cho”. Theo Điều 274 BLDS năm 2015 nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Từ đó, có thể thấy điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện chỉ có thể là “thực hiện nghĩa vụ”.
Mục đích của việc thực hiện nghĩa vụ đó có thể phục vụ lợi ích của chính người tặng cho hoặc một người nào đó có mối quan hệ với người có tài sản, cũng có khi chỉ là nghĩa vụ về mặt tinh thần hoặc vì lợi ích chung. Pháp luật không quy định nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện là nghĩa vụ về tài sản hay nghĩa vụ thực hiện hoặc không được thực hiện một việc. Pháp luật cũng không định tính và không định 7 lượng về phạm vi và giá trị của nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện. Nghĩa vụ mà bên được tặng cho thực hiện chỉ tuân theo nguyên tắc không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Như vậy, nghĩa vụ mà bên được tặng cho tài sản có điều kiện phải thực hiện là tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Nếu theo khái niệm điều kiện trong Từ điển Tiếng Việt thì điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện được hiểu là điều mà bên được tặng cho phải thực hiện trước để việc tặng cho được xảy ra sau đó. Tuy nhiên, Điều 462 BLDS năm 2015 quy định điều kiện có thể được thực hiện trước khi tặng cho và dù điều kiện đã hoàn thành thì vẫn không ràng buộc trách nhiệm của bên tặng cho. Đồng thời, điều kiện cũng có thể được thực hiện sau khi tặng cho, điều kiện không hoàn thành là căn cứ để bên tặng cho hủy bỏ việc tặng cho, đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều này khiến điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho có điều kiện không còn tuân theo bản chất thông thường được hiểu của điều kiện nói chung. 5 Tuấn Đạo Thanh, Phạm Thu Trang, Phạm Thị Thu Hằng (2014), “Bàn về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 09, tr. 6 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.
7 Phùng Trung Tập (2020), “Bàn về hợp đồng tặng cho có điều kiện”, Tạp chí Kiểm sát, số 04, tr. 12 Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện như sau: “Điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện là việc thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự do các bên thỏa thuận theo nguyên tắc không trái pháp luật, đạo đức xã hội nhằm làm cơ sở để bên tặng cho xem xét quyết định việc tặng cho hoặc hủy bỏ việc tặng cho”. Khái niệm hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ là điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện. Hợp đồng tặng cho có điều kiện được xác lập hợp pháp thì được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Trên cơ sở có sự bảo đảm của pháp luật, bên tặng cho được yêu cầu và bên được tặng cho phải thực hiện các nghĩa vụ là điều kiện tặng cho trong hợp đồng một cách thiện chí, hợp tác và trung thực. Theo đó, bên được tặng cho phải tuân thủ nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng. Nguyên tắc này là cơ sở để pháp luật quy định cách thức giải quyết trong trường hợp bên được tặng cho không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng thực hiện không đúng, không đầy đủ điều kiện tặng cho. Theo Điều 462 BLDS năm 2015, các bên được thỏa thuận thời điểm thực hiện điều kiện là trước hoặc sau khi tặng cho.
Trong trường hợp phải thực hiện điều kiện trước khi tặng cho, điều kiện tặng cho chỉ là cơ sở để bên tặng cho xem xét có quyết định tặng cho hay không, thậm chí điều kiện đã hoàn thành thì việc tặng cho có thể không xảy ra. Do đó, trước khi tặng cho, dù bên được tặng cho đã đồng ý thực hiện điều kiện nhưng sau đó thay đổi ý chí không thực hiện nữa thì hậu quả tất yếu là không được nhận tài sản tặng cho.