MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo luôn ảnh hƣởng đến đời sống chính trị, tƣ tƣởng, văn hoá, xã hội và tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia, dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo.
Tín ngƣỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đời sống nhân dân. Đảng và Nhà nƣớc ta chủ trƣơng thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do, tín ngƣỡng tôn giáo và không tín ngƣỡng tôn giáo. Trong thời gian gần đây, đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo Việt Nam sôi động hẳn lên. Trong khi các tôn giáo truyền thống hồi sinh với sức sống mới thì các tôn giáo mới cũng nở rộ.
Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từ năm 1980 trở lại đây, ở nƣớc ta xuất hiện khoảng 60 hiện tƣợng tôn giáo mới,trong đó có những hiện tƣợng khá phổ biến nhƣ Long Hoa Di Lặc, Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Tiên Phật Nhất Giáo, đạo Thánh Mẫu, đạo Trần Hƣng Đạo, đạo Tiên, đạo Tâm linh dân tộc [6; tr1]. Có lẽ sinh hoạt tín ngƣỡng, tôn giáo không chỉ sôi động ở các đô thị, thành phố lớn mà còn lan tỏa tới các khu vực làng nghề ở nông thôn. Ngƣời ta thực hiện hành vi tín ngƣỡng tôn giáo ở nhiều nơi nhƣ chùa, đền (phủ) và tại nhà riêng. Ở Việt Nam các làng nghề có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng.
Các làng nghề phát triển thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hƣớng “ Ly nông bất ly hƣơng”. Sự lan tỏa của các làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất thu hút nhiều lao động kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác, làm tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ làm biến đổi mọi mặt của xã hội trong đó có hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo. Thế nhƣng những nghiên cứu hiện nay về làng nghề dƣới lăng kính xã hội học 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ yếu là cấu trúc dân số, lựa chọn giá trị của thanh niên mà còn thiếu vắng những nghiên cứu về hoạt động tôn giáo, tín ngƣỡng ở làng nghề. Bắc Ninh là một trong trong những nơi có nhiều làng nghề, có nền văn hóa đậm đà bản sắc riêng ở Việt Nam, là cái nôi của đạo phật ở Việt Nam và có đời sống tín ngƣỡng điển hình của vùng đồng bằng bắc bộ nhƣ thờ cúng tổ tiên, tín ngƣỡng thờ mẫu…trong quá trình tồn tại và phát triển những loại hình tôn giáo tín ngƣỡng này ảnh hƣởng rất nhiều vào trong lối sống, phong tục, tập quán thậm chí cả trong vấn đề sinh kế.
Xã hội mở cửa, hội nhập, kinh tế ngày càng phát triển gây ra nhiều biến đổi trong nghề nghiệp kéo theo đó là biến đổi trong đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo tại những làng nghề xƣa cũ. Xã Đông Thọ thuộc huyện Yên Phong trên địa bàn tỉnh có thôn Đông Xuất điển hình cho làng nghề cổ truyền có nghề đẽo cày bừa song nay đã không còn đáp ứng nhu cầu xã hội và thôn Đông Bích điển hình cho làng nghề mới xuất hiện có nền kinh tế giàu lên nhanh chóng. Hai làng nghề này bổ sung cho nhau thể hiện đầy đủ cái nhìn về ngƣời dân làng nghề ở Bắc Ninh nói chung trong đó bao gồm cả cái nhìn về hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo. Vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài “Hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân làng nghề ở Bắc Ninh (Nghiên cứu trường hợp làng nghề Đông Xuất và Đông Bích, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)”.
mong muốn tìm hiểu thực trạng hành vi tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân làng nghề ở Bắc Ninh và động cơ, mục đích thực hiện các hành vi tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân hai làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 2. Ý nghĩa lý luận Ở Việt Nam, xã hội học tôn giáo vẫn còn khá nhiều khoảng trống cả về lý luận và thực nghiệm. Hơn nữa những lý luận tôn giáo chủ yếu sử dụng những lý thuyết của phƣơng Tây ít nhiều sẽ tồn tại những hạn chế nhất định khi áp dụng vào thực tiễn tại Việt Nam.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do đó, nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc vận dụng và xem xét sự vận dụng quan điểm lý thuyết xã hội học tôn giáo ở Phƣơng Tây vào nghiên cứu hành vi tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân ở hai làng nghề. Ý nghĩa thực tiến Trên cơ sở nghiên cứu về hành vi tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân làng nghề ở Bắc Ninh hiện nay và những mối liên hệ của yếu tố cá nhân đến hành vi tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân làng nghề, sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách về tôn giáo cũng nhƣ những ai quan tâm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tín ngƣỡng, tôn giáo ở làng nghề. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3. Những nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo gắn với làng Chủ đề tín ngƣỡng, tôn giáo gắn với làng đã có khá nhiều nhƣng chủ yếu là các nghiên cứu nhìn dƣới khía cạnh văn hóa, du lịch, an ninh.
Những nghiên cứu này mới chỉ đi sâu vào quá trình xâm nhập, phát triển, mô tả đơn thuần về một số tín ngƣỡng ở làng thuộc nông thôn Việt Nam và mối quan hệ qua lại giữa văn hóa với tín ngƣỡng, tôn giáo mà chƣa có cái nhìn từ góc độ xã hội học, chƣa quan tâm tới mô tả hành vi và phân tích hành vi tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân nông thôn nói chung, làng nghề nói riêng. Theo quan điểm của Nguyễn Đức Lữ (2011) in trong cuốn “ Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” và “ Tìm hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và nhà Nƣớc ta Việt Nam hiện nay” cho rằng Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Bên cạnh các tín ngƣỡng dân gian, bản địa, có những tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ đầu Công nguyên, lại có những tôn giáo xuất hiện ở nƣớc ta vào những thập niên đầu thế kỷ này. Ở Việt Nam tôn giáo và tín ngƣỡng đan xen, hòa đồng, khoan dung lẫn nhau đƣợc thể hiện ở những điểm: Trên điện thờ của một số tôn giáo 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có sự hiện diện của một số vị thần, thánh, tiên, phật… của nhiều tôn giáo.
Không ít ngƣời sẵn sàng thờ cúng cả thần, thánh, tiên, phật lẫn thổ công, hà bá… Họ có thể đều đặn đến chùa mà vẫn say sƣa hầu bóng; có thể vừa chực đủ những phép bí tích mà vẫn ham bói toán, tử vi, tham gia nghi lễ tôn giáo lớn và vẫn chăm chỉ thờ cúng tổ tiên, tổ chức hội làng, thờ Đạo Mẫu [23,24]. Hơn nữa, theo quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn (2001) trong cuốn “ Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” thì đời sống tôn giáo Việt Nam đƣợc vận hành đặc trƣng xu thế hòa nhập mà không hợp nhất, mang tính đa thần khó mà phân biệt đƣợc cái thiêng và cái tục. Trong tâm thức ngƣời Việt không có ranh giới giữa hai thế giới hƣ và thực. Con ngƣời thân thƣơng, không xa cách với đối tƣợng mình thờ phụng.
Bởi vì họ tin đó là ngƣời bảo vệ cho mình. Mối quan hệ trong xã hội hiện thực “có cầu, có đƣợc”, “có kiêng, có lành” [35]. Viết về tín ngƣỡng Việt Nam, Ngô Đức Thịnh (2001) chủ biên cuốn sách “Tín ngƣỡng và văn hóa tín ngƣỡng ở Việt Nam” và Nguyễn Thọ Khang với bài viết “Đặc điểm và giá trị văn hóa của tín ngƣỡng dân gian ở Việt Nam” đã khái quát về sự ra đời, phát triển và bản chất của tín ngƣỡng cho rằng tín ngƣỡng đi đôi với thời gian hình thành và phát triển lịch sử dân tộc, bản chất của tín ngƣỡng cũng là nhận thức hƣ ảo thế giới, là niềm tin của con ngƣời vào sức mạnh siêu nhiên vào “cái thiêng”. Tín ngƣỡng dân gian là một một bộ phận cấu thành của tín ngƣỡng, tôn giáo; là phƣơng thức và hành vi của cộng đồng dân cƣ đối với hiện tƣợng và sức mạnh siêu nhiên (Nguyễn Thọ Khang).
Tín ngƣỡng và tín ngƣỡng dân gian chƣa phát triển nhƣ tôn giáo mới chỉ dừng lại ở các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết mà chƣa có hệ thống giáo lý; chƣa đối lập hẳn thế giới thần linh với con ngƣời nên chƣa có tính cứu thế đầy đủ; sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng làng xã dân tộc trong sinh hoạt tín ngƣỡng còn mang tính tự nhiên, dân gian mà chƣa hình 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành giáo hội; nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán chƣa thành quy ƣớc chặt chẽ để ràng buộc cộng đồng nhƣ một giáo luật. Trong khi Ngô Đức Thịnh đi sâu vào mô tả một số loại hình tín ngƣỡng tiêu biểu ở Việt Nam thì Nguyễn Thọ Khang nêu rất khái quát nhƣng cả hai đều đồng quan điểm cho rằng một số loại hình tín ngƣỡng chủ yếu là tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngƣỡng thờ thần nhƣ thần tài, tín ngƣỡng thờ thành hoàng làng, tín ngƣỡng nghề nghiệp nhƣ thờ tổ nghề, tín ngƣỡng Đạo Mẫu. Thông qua việc đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ giữa tín ngƣỡng và trong sinh hoạt văn hóa dân gian (Ngô Đức Thịnh) vớitrình bày đặc điểm lịch sử và giá trị văn hóa truyền thống chứa đựng trong tín ngƣỡng dân gian (Nguyễn Thọ Khang), hai tác giả đã cung cấp cái nhìn đa dạng cho ngƣời đọc về mối quan hệ giữa tín ngƣỡng và văn hóa truyền thống. Ngoài ra viết về chủ đề này còn phải kể đến một vài tác giả nhƣ Hồ Bá Thâm với bài viết “Tín ngƣỡng dân gian, một lĩnh vực trong đời sống tâm linh cần sự quan tâm của toàn xã hội”.
“Các hình thái tín ngƣỡng tôn giáo ở Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy. Nghiên cứu về tín ngƣỡng ở Bắc Ninh, Nguyễn Quang Khải có bài viết “Mối quan hệ giữa tín ngƣỡng thờ thành hoàng làng với sự tồn tại của phong tục tập quán và các loại hình văn hóa truyền thống ở nông thôn đồng bằng bắc bộ Việt Nam” in trong kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3.