Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dấu hiệu hành vi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Sự thể hiện dấu hiệu hành vi phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành và thực tiễn xét xử có liên quan. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành liên quan đến dấu hiệu hành vi phạm tội. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hành vi phạm tội 1. Khái niệm hành vi phạm tội Hành vi và hành vi phạm tội là những thuật ngữ được dùng phổ biến trong khoa học pháp lý hình sự và khoa học tâm lý pháp lý. Việc làm rõ khái niệm hành vi và hành vi phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ về mặt lý luận mà còn cả trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong Từ điển Tâm lý học do R.Corsini chủ biên có viết: “Hành vi là hành động, phản ứng, những tương tác đáp lại kích thích bên trong và bên ngoài, bao gồm những cử chỉ thuộc về nội tâm và những quá trình vô thức” [76, tr.
Hành vi có hai phạm trù: hành vi hiện ra bên ngoài và hành vi diễn ra bên trong. Hành vi bộc lộ ra bên ngoài là những hành động mà người khác có thể quan sát trực tiếp được. Hành vi diễn ra bên trong đầu là những gì chúng ta làm mà người khác không thể quan sát trực tiếp được nhưng có thể nhận biết thông qua suy luận. Ở Việt Nam hiện nay, khi bàn đến khái niệm hành vi cũng có những ý kiến khác nhau.
Có tác giả cho rằng, hành vi là một bộ phận của hoạt động và luôn được điều khiển bởi ý thức. “Hành vi là những biểu hiện chỉ bộc lộ ra bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích”. Tác giả khác cũng cho rằng, hành vi là bộ phận của hoạt động nhưng hành vi có thể có ý thức và có thể không có ý thức, nhưng điều quan trọng là hành vi phải mang tính ý nghĩa xã hội. “Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của cá quá trình sinh lý của hoạt động.
Nó gắn với động cơ, nhu cầu và có ý nghĩa xã hội nhất định” [24, tr. Như vậy, khái niệm về hành vi chưa có một quan điểm thống nhất, bởi mỗi tác giả khi đưa ra khái niệm hành vi đã nhìn nhận, nghiên cứu hành vi ở những góc độ khác nhau. Do đó, có những định nghĩa mở rộng khái niệm hành vi và cho rằng, hành vi là tất cả mọi phản ứng của con người (cả những phản ứng vô thức và có ý 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ngược lại, có những định nghĩa thu hẹp khái niệm hành vi và cho rằng hành vi phải là những phản ứng có ý thức, được điều khiển bởi ý thức.
Có những ý kiến lại khẳng định hành vi là hoạt động hoặc là một bộ phận cấu thành hoạt động… Từ việc khái quát phân tích trên, có thể hiểu rằng: Hành vi là cách xử sự của con người trong một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định. Tuy nhiên, cách xử sự của con người trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể đó có thể được kiểm duyệt bởi ý thức (hành vi có ý thức), nhưng cũng có thể không được kiểm duyệt bởi ý thức (hành vi vô thức). Như vậy, khi nói đến hành vi của con người là bao gồm cả hành vi có ý thức và hành vi vô thức. 74-78] Trong cuốn Từ điển Luật học không đề cập đến thuật ngữ “hành vi pháp luật” mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hành vi pháp lý” theo đó, hành vi này được giả thích là: “Hành vi thực hiện một sự kiện thực tế, cụ thể theo ý chí của con người làm xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật” [6, tr.
Việc giải thích này đã găn hành vi của con người với các quan hệ pháp luật do đó không bao quát được những hành vi có ý nghĩa pháp lý nhưng không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Do đó, để có thể hiểu được quan niệm đầy đủ về hành vi pháp luật, cần phải hiểu như sau: Thứ nhất, hành vi pháp luật là xử sự thực tế của con người trong một hoàn cảnh cụ thể có thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định (xử sự dưới dạng hành động), và cũng có thể được thể hiện bằng việc thiếu vắng những cử chỉ, lời nói hay những thao tác nhất định (xử sự dưới dạng không hành động). Thứ hai, khác với các hành vi xã hội khác, một hành vi thực tế nào đó của con người chỉ được coi là hành vi pháp luật khi đó là những xử sự hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Không phải tất cả các hành vi hay xử sự thực tế của con người đều là hành vi pháp luật mà chỉ những sử sự thực tế của con người theo quy định của pháp luật là hợp pháp hoặc trái pháp luật thì mới có thể là hành vi pháp luật.
Cách xử sự của con người trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể được pháp luật dự liệu có thể là phù hợp với những yêu cầu của pháp luật, hoặc trái với yêu cầu của pháp luật. Pháp luật chính là tiêu chuẩn, là thước đo để xác định hành vi thực tế nào đó của con người là hợp pháp hay bất hợp pháp. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, chủ thể của hành vi pháp luật phải có năng lực hành vi pháp luật. Chính là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trên thực tế.
Nói tóm lại, có thể hiểu hành vi pháp luật là xử sự hợp pháp hoặc bất hợp pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật. Hiểu như vậy có thể giúp chúng ta có thể phân biệt hành vi pháp luật với hành vi được xem là một loại sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Trong nhiều trường hợp hành vi pháp luật cũng đồng thời là hành vi có thể plamf phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, có những hành vi pháp luật không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật.
Chẳng hạn, hành vi tuân theo pháp luật (không thực hiện hành vi mà pháp luật cấm) trong nhiều trường hợp sẽ không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Ngược lại, có những hành vi làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật nhưng lại không phải là hành vi pháp luật mà chúng chỉ có ý nghĩa như là một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Ví dụ hành vi gây thiệt hại về tài sản của người khác của đứa trẻ không có năng lực hành vi pháp luật. 17, 18] Trong các yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm, hành vi phạm tội là biểu hiệu cơ bản nhất của tội phạm nói chung.
Các biểu hiện khác thuộc mặt khách quan chỉ xuất hiện khi có hành vi phạm tội và luôn gắn liền với hành vi. Không có hành vi thì cũng không có các biểu hiện khác. Do vậy, dấu hiệu hành vi được mô tả trong tất cả các cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, sự mô tả dấu hiệu này ở các cấu thành tội phạm không giống nhau hoàn toàn vì còn phụ thuộc một phần vào tính đa dạng, phong phú của chính hành vi thực tế.
Khi mô tả dấu hiệu hành vi của một loại tội phạm cụ thể không thể không xét đến tính đặc thù của hành vi thực tế được phản ánh trong cấu thành tội phạm. Mặc dù là một dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các dấu hiệu cấu thành của tội phạm, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể, phân loại thống nhất về hành vi phạm tội. Tuy nhiên, có thể hiểu một cách khái quát nhất như sau: Hành vi phạm tội (hay còn được gọi là hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm pháp luật hình sự) là xử sự cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan dưới những hình thức nhất định, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. 167] Hành vi, chính là những biểu hiện được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan qua những hình thức nhất định dưới sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí.
Hành vi gây nên những thiệt hại cho khách thể của tội phạm. Nói một cách khác, “Hành vi phạm tội chính là cầu nối giữa khách thể và chủ thể”, sẽ không có tội phạm và người phạm tội nếu như không có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội - hành vi phạm tội. Các đặc điểm cơ bản của hành vi phạm tội Từ những phân tích trên có thể đưa ra một số đặc điểm của hành vi phạm tội như sau: Thứ nhất, hành vi phạm tội phải có tính nguy hiểm cho xã hội. Đây là đặc điểm có tính chất quan trọng và quyết định nhất trong việc phân biệt một hành vi là vi phạm pháp luật khác với hành vi phạm tội.
Về mặt khách quan, hành vi phạm tội gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại tới những quan hệ xã hội được luật hình sự xác lập và bảo vệ. Những quan hệ xã hội đó được quy định trong khoản 1, Điều 8 của Bộ luật hình sự bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất và sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức chính trị, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, quyền và những lợi ích hợp pháp khác của công dân, trật tự xã hội chủ nghĩa. Có nghĩa là, nếu không xâm phạm những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì hành vi đó dù có nguy hiểm cho xã hội thì cũng không phải là hành vi phạm tội.